SÁU LỜI DIỄN TẢ MẦU NHIỆM
(Six Words Tell the Mystery)
Tác giả: Anthony Schueller, SSS
(Trích Tạp chí Emmanuel/ Linh Đạo Thánh Thể –
Tháng 3/ Tháng 4, Năm 2014 – Trang: 68 – 72)
Đối với nhiều người, nhà văn Ernest Hemingway chính là biểu tượng của văn chương Mỹ hiện đại. Ông đã trải qua một cuộc đời đầy biến động, với những mối tình tan vỡ, những bóng tối nội tâm, song song với một phong cách viết giản dị, tiết kiệm mà sắc bén. Ông đã để lại dấu ấn qua những tác phẩm bất hủ như Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, và Ông già và biển cả.
Carolyn Kellogg, cây bút của Tạp chí Los Angeles Times, nhận xét: “Phong cách của nhà văn Hemingway đặc biệt vì ông viết ngắn gọn, tưởng như đơn giản. Khi nhiều nhà văn khác còn miệt mài với những câu văn dài, ông Hemingway xuất hiện và nghiền nát chúng bằng những câu ngắn, mạnh mẽ như bước chân lính.” Phong cách ấy được tôi luyện từ những năm tháng làm báo ở Kansas City, từ những ngày ông làm phóng viên chiến tranh, và từ cách ông ôm trọn cuộc sống với tất cả sự phức tạp của nó.
Một giai thoại nổi tiếng về nhà văn Hemingway kể rằng ông từng nhận một thử thách, có thể để giải quyết một vụ cá cược trong quán rượu hoặc để làm câm lặng một đồng nghiệp. Thử thách đó là: ông có thể viết một câu chuyện hay chỉ bằng vài từ. Người ta kể rằng ông Hemingway đã làm được với sáu từ: “Bán: giày trẻ em chưa từng dùng.” Thể loại này được gọi là “truyện cực ngắn” (flash fiction), và từ đó đã khơi nguồn cho nhiều trang nhật ký mạng (online blogs) cũng như trở thành đề tài bài tập trong các lớp viết văn ở trung học và đại học.
Tôi phải nói rằng khi lần đầu nghe câu chuyện “Bán: giày trẻ em chưa từng dùng”, tôi đã bị cuốn hút. Tôi tự hỏi điều gì ẩn sau những lời ấy. Phải chăng đôi giày chưa dùng chỉ là món quà dư thừa trong một buổi tiệc mừng em bé, hay một định mệnh buồn nào đó đã xảy đến với đứa trẻ và/hoặc cha mẹ? Tôi đã xúc động sâu xa. Ở bình diện thần học-phụng vụ, tôi tự hỏi liệu có thể viết về Bí tích Thánh Thể chỉ trong sáu từ hoặc ít hơn – để “kể lại câu chuyện” của nghi thức vốn là trung tâm của đời sống, đức tin, và sứ mạng của chúng ta với tư cách người Công giáo.
Chạm vào Mầu nhiệm
Trong bài giảng lễ Mình Máu Thánh Chúa tại Buenos Aires năm 2009, Đức Giáo hoàng Phanxicô (khi ấy là Hồng y Jorge Mario Bergoglio) đã nói: “Trong Thánh Thể, điều Chúa Giêsu hằng khát khao chia sẻ với chúng ta, giao ước đạt đến sức mạnh viên mãn trong sự khiêm nhường của hiến lễ Ngài. … Thánh Thể, dù ta có lúc bỏ quên, vẫn luôn tái sinh trong những giây phút quan trọng của đời sống. Chúa đồng hành trên hành trình, ngay cả khi ta không nhận ra, và luôn có một giây phút, khi bẻ bánh, mắt ta mở ra và ta nhớ lại tình yêu của Ngài. Cử hành Thánh Thể chính là khôi phục ký ức tình yêu ấy.”
| Liệu có thể kể lại mầu nhiệm Thánh Thể và Vượt Qua chỉ bằng sáu từ? |
Ngài tiếp: “Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã tiên báo hiến lễ thập giá. Ngài dồn hết tình yêu vào Thánh Thể. Vì thế, Thánh Thể có quyền năng mở mắt ta, khơi lại ký ức, làm tràn ngập trái tim bằng tình yêu. Thánh Thể đưa ta vào hiện tại của thập giá và phục sinh. Thánh Thể giữ ta trong giao ước tình yêu cho đến ngày Ngài lại đến.” (ĐGH Phanxicô, Gặp gỡ Đức Kitô, Scepter, 2013, tr. 75-76).
Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô vang vọng lại truyền thống thần học và phụng vụ của Hội Thánh từ buổi sơ khai. Hiến chế Sacrosanctum Concilium của Công đồng Vaticanô II về Phụng vụ Thánh đã khẳng định: “[Từ thời các Tông đồ cho đến nay] Hội Thánh chưa bao giờ ngừng quy tụ để cử hành mầu nhiệm Vượt Qua: đọc lại ‘những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh’ (Lc 24,27); cử hành Thánh Thể, nơi mà ‘chiến thắng và khải hoàn của Chúa lại được hiện tại hóa’ (Công đồng Trentô, khóa XXII); đồng thời dâng lời tạ ơn Thiên Chúa ‘vì phúc lộc khôn tả Người ban’ (2 Cr 9,15) trong Đức Kitô Giêsu, ‘để ngợi khen vinh quang Người’ (Ep 1,2), nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần” (số 6).
Những trích dẫn này làm nổi bật niềm tin và lời tuyên xưng của Hội Thánh qua muôn thế hệ: rằng mỗi lần chúng ta ăn Bánh này và uống Chén này, chúng ta loan báo cái chết của Chúa cho tới khi Người lại đến (x. 1 Cr 11,26).
Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô Giêsu – cái chết và sự phục sinh của Người – là trọng tâm của đức tin và thực hành Thánh Thể trong đời sống Công giáo. Liệu chúng ta có thể kể lại câu chuyện Thánh Thể và mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa chỉ bằng sáu từ? Đây là một nỗ lực:
Sáu từ: Tưởng nhớ Tình yêu…
Tưởng nhớ. “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Lệnh truyền của Đức Giêsu, mời gọi chúng ta tưởng niệm cái chết của Người qua việc bẻ bánh và chia sẻ chén rượu, được ghi lại trong truyền thống Phaolô về việc thiết lập Thánh Thể (1 Cr 11,23-26; Lc 22,14-20). Và như học giả phụng vụ người Anh, Dom Gregory Dix, đã nhận định trong tác phẩm kinh điển The Shape of the Liturgy (1945), có lẽ chưa từng có một lệnh truyền nào trong lịch sử nhân loại được tuân giữ cách trung tín và liên tục đến như vậy.
“Tưởng niệm” (anamnesis trong tiếng Hy Lạp) là trung tâm của kinh nghiệm tôn giáo Do Thái. Lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, Con tưởng nhớ bao việc Ngài làm” (Tv 77,12) đã vang vọng qua bao thế hệ: trong Đền Thờ Giêrusalem, nơi những hội đường xa xôi, và trong mái nhà của những tín hữu đạo đức.
Tưởng niệm nơi Israel không chỉ là khả năng hồi tưởng về người và biến cố trong quá khứ, kể cả những biến cố cứu độ. Tác giả Frank C. Senn, trong Từ Điển Mới về Phụng Vụ Bí Tích (1990), nhận xét: “Từ Hy Lạp này hầu như không thể dịch sang tiếng Anh. ‘Kỷ niệm,’ ‘tưởng nhớ,’ ‘nhớ lại’ đều gợi ý về quá khứ, trong khi anamnesis có nghĩa là làm cho một biến cố hay một nhân vật từ quá khứ hiện diện trong hiện tại. Đôi khi, từ ‘hiện tại hóa’ được dùng để diễn tả sức mạnh của anamnesis.” (45) Qua nghi thức và lời nói, nhất là trong việc kể lại câu chuyện thánh về hành động của Thiên Chúa, biến cố quá khứ sống lại, và quyền năng của nó được thông ban cho những ai tham dự hôm nay.
| “Thánh Thể có sức mở mắt chúng ta, làm cho chúng ta ‘ghi nhớ’, và tràn ngập ký ức của tâm hồn bằng tình yêu.” |
Biến cố vĩ đại nhất của Thiên Chúa dành cho Israel được tưởng niệm hằng năm trong lễ Vượt Qua. Nhờ đó, dân Chúa lại cảm nghiệm quyền năng giải thoát, nuôi dưỡng niềm hy vọng và khát vọng của dân tộc cũng như của toàn nhân loại, hướng tới sự hoàn tất trọn vẹn: “Năm tới tại Giêrusalem!”. Đối với Kitô hữu, hành động cứu độ vĩ đại nhất của Thiên Chúa, vượt trên cuộc Xuất Hành và dành cho toàn thể nhân loại, chính là Giao ước mới được thực hiện trong hy tế của Đức Kitô trên đồi Canvê, và được tưởng niệm trong Thánh Thể.
Tình yêu. Các dân tộc cổ xưa thờ phượng thần linh vì nhiều lý do: để được tha thứ, để tránh hình phạt, để biểu lộ lòng sùng kính, để tìm phúc lành hay ân huệ. Các thần linh ấy cần được xoa dịu để khỏi gây tai họa hoặc để thúc đẩy họ hành động. Nhưng chỉ riêng Israel, nhờ lời giảng dạy kiên trì của các ngôn sứ, đã xác tín rằng Thiên Chúa của họ, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, yêu thương họ và đã bước vào giao ước trung tín để bảo đảm hạnh phúc và sự an lành cho họ.
Ngôn sứ Hôsê, sống khoảng tám thế kỷ trước thời Đức Giêsu, được gọi là Ngôn sứ của Tình yêu Thiên Chúa. Chính đời sống của ông phản chiếu sứ điệp mà ông công bố cho dân Chúa.
Ngôn sứ Hôsê đã yêu một người phụ nữ xinh đẹp tên là Gômer, một kỹ nữ mà ông cưới theo lệnh của Thiên Chúa. Nhiều lần, ông tha thứ cho những lầm lỗi của nàng, kiên nhẫn tìm cách chinh phục lại trái tim nàng, đưa nàng trở về với ông trong dịu dàng và yêu thương: “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16). Ngôn sứ Hôsê trung tín với nàng Gômer, như Thiên Chúa trung tín với dân Người. Và chính Đức Kitô sẽ mặc khải trọn vẹn sự viên mãn của tình yêu Thiên Chúa.
…Ân sủng nhưng không
Thật nghịch lý khi một người Pharisêu tự mãn, khắt khe, từng tự hào về lòng trung thành với Lề Luật và truyền thống Do Thái, coi việc tuân giữ ấy là nguồn công chính, lại trở thành vị tông đồ rao giảng Tin Mừng ân sủng. Khi ông Saolô, kẻ bách hại, gặp Đức Kitô phục sinh trên đường Đa-mát, thế giới tôn giáo của ông đã hoàn toàn đảo lộn. Thánh Phaolô Tông đồ đã nhận ra và công bố sự nhưng không tuyệt đối của ơn cứu độ trong kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, một kế hoạch “đã được giữ kín từ muôn thuở” (x. Ep 3,1-11).
Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Chúng ta được công chính hóa nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Ân sủng là một ân huệ, một trợ giúp nhưng không [và vô vị lợi] mà Thiên Chúa ban để chúng ta để đáp lại tiếng gọi của Người: trở thành con cái Thiên Chúa, làm nghĩa tử, tham dự vào bản tính Thiên Chúa và vào sự sống đời đời” (số 1996).
Ngôn sứ Hôsê đã yêu thương cô Gômer cách trung tín và bền bỉ. Chính trong sự trung tín ấy mà tình yêu hoàn hảo của Thiên Chúa được biểu lộ, như thánh Phaolô khẳng định trong thư gửi tín hữu Rôma:
“Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính; Họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,6-8).
Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc chúng ta rằng trong mỗi Thánh lễ, chúng ta tìm cách “khôi phục, hay tái chiếm, ký ức về tình yêu của Người” và sống trong sức mạnh của tình yêu ấy.
Chân phúc Têrêsa Calcutta đã nhận ra mối liên kết mật thiết giữa tình yêu của Đức Kitô trên đồi Canvê cách đây hai ngàn năm và tình yêu của Đức Kitô trong Thánh Thể hôm nay. Diễn lại lời của ngài, chúng ta có thể nói: khi chiêm ngắm Thập giá, ta hiểu khi ấy Đức Giêsu đã yêu ta biết bao; khi tham dự Thánh Thể, ta hiểu Người đang yêu ta biết bao ngay lúc này.
Khi tình yêu trở nên quá thật, quá cứu độ, và ký ức quá mạnh mẽ, thì “Thánh Thể làm cho chúng ta trở thành những người đồng thời với Thập giá và sự Phục sinh của Đức Giêsu.”
…Ơn Cứu Độ cho Muôn Dân
Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo viết: “Chúng ta được công chính hóa nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng đã dâng mình trên Thánh Giá làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, và máu Người trở nên phương tiện đền tội cho mọi người” (số 1992).
Tình yêu của Thiên Chúa dành cho thụ tạo là tình yêu vĩnh cửu. Đó là tình yêu chạm đến mọi chiều kích của đời sống và thực tại nhân sinh, đặc biệt là tội lỗi, thứ làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta và khiến ta xa lìa Người cũng như xa lìa nhau. Trong hành động giải phóng vĩ đại là cuộc Xuất Hành, Thiên Chúa đã giải thoát dân giao ước khỏi ách nô lệ và kiếp tôi đòi ở Ai Cập. Họ đã cảm nghiệm Thiên Chúa như Đấng Giải Phóng.
Trong hy tế của Chiên Vượt Qua là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã bẻ gãy xiềng xích tội lỗi và ích kỷ cho mọi người, ở mọi thời, mọi nơi, và trong mọi hoàn cảnh. Như lời Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI trong bài giảng tại Ngày Giới trẻ Thế giới ở Đức, tháng 8 năm 2005, đã nói rằng: “đây là ‘giờ phút tình yêu khải hoàn…’… Chúng ta được dự phần vào giờ phút ấy khi chúng ta ‘để cho mình, qua việc cử hành Thánh Thể, được cuốn vào tiến trình biến đổi mà Chúa muốn thực hiện.”
Sáu từ kể lại câu chuyện về Thánh Thể và mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa: Tưởng nhớ tình yêu nhưng không, cứu độ muôn dân. Hãy viết nên lời của chính bạn. Hãy kể câu chuyện của bạn về nghi thức vượt thời gian này và về mầu nhiệm cứu độ mà nó công bố.
Tôi xin cảm tạ Đức Cha Robert F. Morneau đã khơi nguồn cho suy niệm này.
(Chuyển ngữ: Lm. Giuse Đinh Đức Huỳnh, SSS)
Nguồn: dongthanhthe.net
