CHIA SẺ SUY TƯ

Đối Thoại Của Ba Thần Học Gia Đại Kết Về Bí Tích Thánh Thể

ĐỐI THOẠI CỦA BA THẦN HỌC GIA ĐẠI KẾT

VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

(A Trio of Ecumenical Theologians on the Eucharist) –

Tác giả: Owen F. Cummings –

(Trích Tạp chí Emmanuel/ Linh Đạo Thánh Thể –

Tháng 5/ Tháng 6, 2017 – Trang: 165 – 174)

 

Thầy Phó tế Owen F. Cummings hiện đảm nhiệm vai trò trưởng khoa học vụ và là Giáo sư Thần học của Hội đồng tại Đại Chủng viện Mount Angel, thuộc thị trấn Saint Benedict, bang Oregon.

 

Nhiều học giả thần học thuộc nhiều truyền thống Kitô giáo khác nhau vẫn duy trì việc nghiên cứu và viết lách về Bí tích Thánh Thể trong thời hiện đại.

Năm 1957, linh mục-thần học gia Karl Rahner, SJ, trong một bài viết về Thánh Thể, đã nhấn mạnh rằng: “Nhiệm vụ của thần học gia Công giáo không phải là giả định mọi sự đều rõ ràng, hay rằng đức tin của họ chỉ vững chắc khi có câu trả lời cho mọi vấn đề.” (1) Ngài khẳng định, như Công đồng Vatican I đã dạy, rằng lý trí được soi sáng bởi đức tin, khi tìm kiếm cách nghiêm túc và đạo đức, sẽ nhờ ơn Chúa mà đạt đến một sự hiểu biết nào đó về các mầu nhiệm” (2)

Hiểu biết phần nào không phải là hiểu biết trọn vẹn. Thực ra, nếu ai đó cho rằng mình đã hiểu hết các mầu nhiệm và giáo lý đức tin thì điều đó có thể bị coi là xúc phạm. Bài viết này chỉ muốn khơi gợi một sự hiểu biết nhất định về đức tin và giáo lý Thánh Thể, chứ không nhằm bao quát tất cả.

Trong 50 năm gần đây, các nghiên cứu về thần học Thánh Thể ngày càng phong phú. Một trong những lý do chính là sự tham gia của Giáo hội vào tiến trình đại kết. Từ Công đồng Vatican II, Giáo hội đã mở ra đối thoại với nhiều truyền thống Kitô giáo về những vấn đề vốn gây chia rẽ. Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của các nghiên cứu về giáo hội học, thần học phụng vụ và thần học Thánh Thể.

Trong bài tiểu luận nhỏ này, tôi muốn giới thiệu ba bài viết gần đây bàn về những khía cạnh khác nhau của thần học Thánh Thể, đến từ ba tác giả với nền tảng rất khác biệt. Bài thứ nhất là của linh mục-thần học gia Gabriel Daly, thuộc dòng Augustinô người Ireland, với tựa đề “Làm sao người này có thể ban cho chúng ta thịt mình để ăn?”. (3) Thần học gia Daly đã là một người kiên trì đóng góp cho công cuộc đại kết tại Ireland, cả trong việc giảng dạy tại Trường Đại kết Ireland, nơi ngài là thành viên sáng lập, và sau đó tại Đại học Dublin, Trinity College (1975–2002).

Tác giả thứ hai là nữ tu Susan K. Wood, thuộc Dòng Bác Ái Leavenworth, Kansas, đồng thời là Giáo sư Thần học tại Đại học Marquette. Phần lớn công trình của sơ tập trung vào giáo hội học và thần học bí tích. (4) Luận án tiến sĩ của sơ tại Marquette đã nghiên cứu thần học của linh mục-thần học gia Henri de Lubac, SJ. (5) Bài viết của sơ mang tựa đề “Ý nghĩa Giáo hội của Thánh Thể.”

Cuối cùng là ông Laul Nimmo, một học giả thần học Cải cách, hiện là Giáo sư Thần học Hệ thống, giữ chức danh danh dự “King’s Chair” (thành lập năm 1620) tại Đại học Aberdeen, Scotland. Bài viết của ông có tựa đề ‘Thánh Thể trong viễn tượng Cải cách’. Luận án tiến sĩ của ông tại Đại học Edinburgh tập trung vào thần học gia Cải cách vĩ đại thế kỷ XX, Karl Barth, nhờ đó ông có vị thế đặc biệt để trình bày cách tiếp cận của truyền thống Cải cách đối với Thánh Thể.” (7)

Linh mục-Thần Học Gia Gabriel Daly

Viễn tượng và sự gắn bó với công cuộc đại kết của linh mục-thần học gia Gabriel Daly được thể hiện ngay từ đầu trong bài viết của ngài: “Trong hành trình tìm kiếm sự hiệp nhất Kitô giáo, không có chủ đề nào đòi hỏi sự đồng thuận mạnh mẽ hơn Thánh Thể. Sự chia rẽ về Thánh Thể thật đáng tiếc, bởi lẽ Thánh Thể vốn được thiết lập để trở thành cuộc cử hành của tình yêu, hiệp nhất và hòa giải với Thiên Chúa cũng như với tha nhân” (181). Ngài nhìn nhận những bước tiến lớn đã đạt được trong sự hiểu biết đại kết, nhưng đồng thời cũng bày tỏ nỗi buồn trước thái độ thiếu quảng đại của Giáo hội Công giáo trong việc cử hành Thánh Thể với các Kitô hữu khác. Thực vậy, cha Daly khẳng định: “Ngày nay không có lý do thần học thuyết phục nào để duy trì sự khước từ mang tính cơ chế đối với việc hiệp thông Thánh Thể” (182).

Cha Daly đã chạm đến một vấn đề cốt lõi vốn tồn tại nơi nhiều người Công giáo khi nói về đại kết: “Chúng ta vẫn hành xử như thể đại kết có nghĩa là xem các Giáo hội khác đáp ứng được bao nhiêu yêu cầu của chúng ta, ngay cả khi chính những yêu cầu đó đang cần được thay đổi sâu rộng.” (183) Ngài cho rằng người Công giáo, dù không chỉ riêng họ, thường định nghĩa bản thân bằng những khác biệt gây chia rẽ hơn là bằng những niềm tin chung hiệp nhất. Cách tiếp cận như thế dễ dẫn đến việc đồng nhất sự hiệp nhất thần học với sự đồng nhất tuyệt đối, và vì thế cha Daly đã nói: “Kitô giáo là một tôn giáo đủ lớn để đón nhận sự đa dạng chính đáng, vốn làm phong phú chứ không đe dọa sự hiệp nhất của nó. Nói thẳng ra, tôi sẽ không muốn thuộc về một Giáo hội hiệp nhất mà lại không chấp nhận sự đa dạng chính đáng.” (184)

Một mối quan tâm cốt lõi của người Công giáo khi nói về Thánh Thể là nỗi e ngại đối với biểu tượng, như thể việc nhấn mạnh đến tính biểu tượng “đồng nghĩa với việc làm suy giảm sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể” (185). Công trình tiến sĩ của cha Daly tại Đại học Hull, Vương quốc Anh, về cuộc khủng hoảng Hiện đại trong Công giáo đầu thế kỷ XX, dẫn ngài đến nhận định rằng “sự nghi ngờ đối với biểu tượng đã trở thành một đặc điểm nổi bật của thần học chính thức Rôma kể từ sau việc lên án phong trào Hiện đại trong thập niên đầu của thế kỷ XX” (185). (8) Dù không khai triển sâu, cha Daly dường như gợi ý, và một cách chính xác, rằng một sự hiểu biết nhận thức luận đầy đủ hơn về biểu tượng sẽ không coi nó như đối nghịch với tính hiện thực.

Ngài tiếp tục lưu ý rằng thuật ngữ biến thể (transubstantiation) vốn là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận trong thần học Kitô giáo. Với nhiều Kitô hữu, thuật ngữ này “mang tính vật chất quá mức và thiếu chiều kích thiêng liêng cũng như Kinh Thánh” (185). Cha Daly viết một đoạn với những suy tư cẩn trọng về thuật ngữ này:

“Ngày nay, (biến thể) thường được sử dụng như thể ý nghĩa của nó là hiển nhiên, nhưng thực sự không phải vậy. Người ta không thể ‘tin vào’ biến thể, bởi đó là một thuật ngữ triết học. Người ta không ‘tin’ vào các lập trường triết học; họ hoặc chấp nhận, hoặc điều chỉnh, hoặc từ chối chúng. Chúng không thuộc về bản chất của đức tin; chúng chỉ là cách diễn đạt mang tính văn hóa cho những gì Kitô hữu tin. Và khi văn hóa thay đổi, chúng có thể trở nên lỗi thời, thậm chí gây hiểu lầm. Giáo hội Công giáo đã khẳng định rằng mình không có thẩm quyền áp đặt bất kỳ hệ thống triết học nào nhân danh đức tin; tuy nhiên, Giáo hội có thể nói rằng một triết thuyết nào đó ‘phù hợp’ hoặc ‘thích đáng’ để diễn đạt một tín điều, như Công đồng Trent đã làm với khái niệm triết học về biến thể. Công đồng Trent không hề nói rằng người Công giáo buộc phải dùng thuật ngữ này, mà chỉ khẳng định rằng việc sử dụng nó là ‘thích hợp và đúng đắn’ trong thế kỷ XVI. Sau cùng, Giáo hội đã tồn tại hơn một ngàn năm mà không cần đến thuật ngữ này…” (186).

Đoạn văn này có giá trị thần học đặc biệt, dù có thể thách thức một số giả định mà nhiều người Công giáo vẫn giữ. Cần nhấn mạnh rằng cha Daly không hề phủ nhận sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể khi bàn về khái niệm biến thể (transubstantiation). Thay vào đó, ngài chỉ ra nhu cầu phải có một cách hiểu tinh tế hơn về biểu tượng trong mối liên hệ với “thực tại”. “Sự hiện diện thực sự là một yếu tố thiết yếu trong giáo lý Công giáo, nhưng điều đó đặt ra câu hỏi triết học về ý nghĩa của các từ ‘thực’ và ‘hiện diện’. Chúng ta cần nhận ra rằng sự hiện diện mang tính biểu tượng cũng có thể là sự hiện diện thực sự.” (186).

Từ đó, cha Daly kết luận rằng một người Công giáo chính thống không nhất thiết phải dùng thuật ngữ biến thể để diễn đạt đức tin Thánh Thể, dù vẫn có thể sử dụng nếu muốn. Ngài cho rằng trong thời hiện đại, thuật ngữ này gợi lên những điều không mấy hữu ích cho việc diễn đạt đức tin Thánh Thể. “Hoàn toàn có thể là một người Công giáo chính thống mà không bao giờ dùng thuật ngữ ‘biến thể’. Thực tế, ngày nay việc sử dụng nó trở nên thiếu khôn ngoan về mặt văn hóa, bởi vì con người thường nghĩ theo phạm trù vật lý và hóa học hơn là theo phạm trù bản thể và tùy thể. Biến thể, vốn là một thuật ngữ siêu hình học, thường bị hiểu theo nghĩa vật chất.” (188)

Trong một lời bình dí dỏm, cha Daly phê phán tác giả vô thần Richard Dawkins, người trong một bài giảng ở Dublin đã nói: “Nếu họ không tin vào biến thể, thì họ không phải là người Công giáo Rôma.” Cha Daly viết: “Thế là rõ: nay quý vị đã biết. Huấn quyền vô thần, vốn thường có cái nhìn nghèo nàn về thần học Kitô giáo hiện đại, đã lên tiếng và định nghĩa cách người Công giáo phải nghĩ về Thánh Thể! Việc một người thông minh như ông Dawkins có thể đưa ra một tuyên bố “ex cathedra” như thế là lời cảnh báo về việc những ngộ nhận phổ biến có thể dễ dàng trở thành ‘tín điều’ trong tâm trí ngay cả những người trí thức, khi lòng muốn công kích tôn giáo lấn át sự hiểu biết về nó.” (188 – 189)

Để chống lại những ngộ nhận như vậy và để thúc đẩy ý thức đại kết sâu rộng hơn về tính hiện thực Thánh Thể, cha Daly nhắc chúng ta nhớ đến những tuyên bố mạnh mẽ trong văn kiện Baptism, Eucharist, and Ministry của Hội đồng Đại kết các Giáo hội Thế giới, được công bố năm 1982. Ở đó, ta tìm thấy một sự hiểu biết vững chắc về sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể, một sự hiểu biết mà người Công giáo có thể đồng thuận, dù họ có thể muốn bổ sung thêm. (10)

Nữ Tu – Thần Học Gia Susan K. Wood

Nếu cha Gabriel Daly tập trung vào khía cạnh hiện diện Thánh Thể của Đức Kitô, thì nữ tu-thần học gia Susan K. Wood lại chọn khai triển ý nghĩa Giáo hội của Thánh Thể, một chiều kích mà theo sơ đã bị bỏ quên. “Việc khơi lại ý nghĩa Giáo hội học của Thánh Thể sẽ sửa chữa một linh đạo Thánh Thể quá cá nhân và riêng tư. Nó biểu lộ nền tảng Kitô học và Thần học về Chúa Thánh Thần của Giáo hội. Nó diễn tả mối liên hệ giữa Giáo hội và các bí tích.” (105)

Không ngạc nhiên khi sơ Wood hướng sự chú ý đến cách thánh Phaolô trình bày Thánh Thể trong thơ của Thánh Phaolô 1 Cr 10-11, cũng như đến viễn tượng Thánh Thể của thánh Augustinô, nơi mà “sự hiệp nhất của thân mình được lãnh nhận nơi bàn thờ là dấu chỉ và thước đo của sự hiệp nhất của Thân mình Giáo hội”, để rồi “bí tích Thánh Thể vừa biểu thị vừa thực hiện sự hiệp nhất của Giáo hội” (106).

Việc Giáo hội bước vào tiến trình đại kết đã mở ra đối thoại với nhiều truyền thống Kitô giáo về những chủ đề vốn được coi là mâu thuẫn với niềm tin Công giáo.

Tóm lại, chiều kích Giáo hội của Thánh Thể có thể được diễn đạt như sau: Đức Kitô có ba thân mình, nhưng cả ba là một: thân mình lịch sử sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, thân mình Thánh Thể, và thân mình Giáo hội. Trong phần lớn thiên niên kỷ đầu của Kitô giáo, trọng tâm được đặt vào thân mình Giáo hội của Đức Kitô, vốn được hình thành nhờ Thánh Thể.

Bước sang thiên niên kỷ thứ hai, mối quan tâm ngày càng chuyển sang việc nhấn mạnh đến các yếu tố Thánh Thể. “Trong khi nhấn mạnh đến tính hiện thực Thánh Thể, thì tính hiện thực Giáo hội theo viễn tượng của thánh Augustinô về totus Christus – toàn thể thân mình Đức Kitô gồm Đầu và các chi thể, chỉ được hoàn tất trong cánh chung – đã bị lu mờ” (107). Thần học của đức Hồng y-thần học gia Henri de Lubac đã khơi lại trọn vẹn chiều kích Giáo hội này của Thánh Thể, và thần học bí tích-Thánh Thể cùng giáo hội học của sơ Wood đã giúp cho cách hiểu ấy trở nên dễ tiếp cận hơn. Nhờ đó, sơ Wood có thể viết như sau:

“Quá thường xuyên trong việc sùng kính Thánh Thể, người ta bị ‘dừng lại’ ở mức độ tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong Thánh Thể, và nghĩ rằng mục đích của phụng vụ Thánh Thể chỉ là làm cho Mình và Máu Chúa hiện diện để họ có thể Rước lễ. Dù điều này đúng, nhưng cách hiểu ấy chưa đủ. Đức Kitô ban cho chúng ta Mình và Máu Người không chỉ để được tôn thờ trong Thánh Thể, hay để mỗi tín hữu cá nhân được rước lấy Người, mà còn là để tạo nên một sự hiệp nhất lớn hơn, một mối dây yêu thương sâu xa hơn, trong việc hình thành toàn thể Đức Kitô (totus Christus), gồm Đức Kitô là Đầu và các chi thể của Người, tức là Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô” (107). Để minh họa cho điều đó, sơ chỉ ra các lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần (epiclesis) trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV:

  • Epiclesis thứ nhất khẩn cầu Chúa Thánh Thần biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô.
  • Epiclesis thứ hai khẩn cầu Chúa Thánh Thần “biến đổi cộng đoàn thành Thân Mình Giáo Hội của Đức Kitô, để khi kết hợp với Đức Kitô, họ được quy tụ trong cuộc trở về cùng Chúa Cha” (108).

Những ví dụ khác cũng cho thấy sự gắn kết giữa Kitô học và Thần học về Chúa Thánh Thần như nền tảng để hình thành Thân Mình Đức Kitô. Các cải tổ phụng vụ sau Công đồng Vatican II (1962-1965), cùng với việc khôi phục lại tầm nhìn Thánh Thể-Giáo Hội này, theo sơ Susan K. Wood, sẽ giúp tín hữu Công Giáo vượt qua cách hiểu quá cá nhân về việc hiệp thông với Chúa. “Bối cảnh của Thánh Thể là Giáo Hội, và ý nghĩa thần học của Thánh Thể cũng là Giáo Hội. Qua việc hiệp thông với Đức Kitô trong Thánh Thể, chúng ta cũng bước vào hiệp thông với nhau” (112). Về mặt thần học và mục vụ, điều cốt yếu là đạt tới một sự hiểu biết và thực hành quân bình hơn: Thánh Thể vừa là hiệp thông với Đức Kitô, vừa là hiệp thông trong Giáo Hội – Thân Mình của Người.

Dù sơ Wood viết chủ yếu trong bối cảnh Công Giáo Rôma, sơ cũng nhận ra một dạng chủ nghĩa cá nhân liên quan đến Thánh Thể trong các truyền thống Tin Lành. Trong chiều hướng đó, sơ trích dẫn tư tưởng của ông Frank Senn – nhà thần học phụng vụ trường phái Luther – rằng: “Thân mình bí tích hình thành Thân mình Giáo Hội, vốn được giữ trong hiệp nhất với Thân mình lịch sử của Đức Kitô, là Đầu của Thân mình Giáo Hội, nhờ việc lãnh nhận Mình và Máu Người trong bí tích.” (11) Sơ Wood cũng ghi nhận rằng mục sư John Calvin, ông tổ của thần học Cải Cách, đã mong muốn có việc cử hành Thánh Thể thường xuyên, nhưng bị chính quyền dân sự Geneva ngăn cản. Tương tự, mục sư John Wesley, vị sáng lập Phong trào Giám Lý (Methodism), đã cử hành Thánh Thể bốn hoặc năm lần mỗi tuần, và phê phán việc cử hành quá thưa thớt trong Giáo Hội Anh. (12)

Sơ Wood không chỉ lưu ý những ví dụ lịch sử này, mà còn chỉ ra các cải tổ phụng vụ đương đại trong những truyền thống Kitô khác, những cải tổ giúp phát triển một thần học Thánh Thể sâu sắc hơn và một cách hiểu mang tính cộng đoàn/Giáo hội hơn về Thánh Thể. Ở phần kết của bài viết, sơ Wood đã tóm lược cách nhìn thần học về Giáo hội dưới ánh sáng của Thánh Thể bằng những lời sau:

“Khi chúng ta hiệp thông với Thân mình bí tích của Đức Kitô, chúng ta không chỉ hiệp thông với Đức Kitô Phục Sinh, mà còn với Giáo Hội, vốn cũng là Thân mình của Đức Kitô. Thánh Thể đồng thời thực hiện hiệp thông trong Đức Kitô và hiệp thông trong Giáo Hội.” (118).

Vị Trưởng Lão Paul Nimmo

Vị Trưởng lão-thần học gia Paul Nimmo nói đến điều ông gọi là “thái độ bất khả tri bí tích” (sacramental agnosticism) trong các cộng đoàn Cải Cách (Reformed communities). Ý ông muốn diễn đạt bằng thuật ngữ này là: “Có rất ít khả năng để diễn đạt một cách tích cực về Thánh Thể hay ý nghĩa của nó. Có lẽ gốc rễ của sự thiếu hụt này nằm ở sự gia tăng thái độ thờ ơ thần học, hoặc ở sự thiếu hụt giáo lý trong Giáo Hội, hoặc ở một nguyên nhân khác… Dù thế nào, điều này dường như là một lý do đáng lo ngại.” (17).

Chúng ta, với tư cách là các Giáo Hội, đã tự định nghĩa mình bằng những khác biệt gây chia rẽ hơn là bằng những niềm tin hiệp nhất.

Những lý do mà Trưởng Lão Nimmo đưa ra cho tình trạng “bất khả tri bí tích” – như sự thờ ơ thần học, sự thiếu hụt giáo lý – không chỉ giới hạn trong truyền thống Cải Cách (Reformed tradition), mà cũng có thể thấy nơi Công Giáo. Kết luận của Trưởng Lão Nimmo“Dù thế nào, điều này dường như là một lý do đáng lo ngại” thật là điều khó có thể phủ nhận.

Ông viết: “Điều đáng chú ý là không có sự thống nhất trong tư duy thần học: truyền thống Cải Cách chưa bao giờ có một thẩm quyền giảng dạy duy nhất như Huấn quyền Công Giáo, hay một nhân vật chi phối duy nhất như mục sư Martin Luther để bảo đảm căn tính giáo lý hay thẩm quyền giảng dạy. Do đó, không có một giáo lý duy nhất về các bí tích nói chung hay về Thánh Thể nói riêng…” (17-18). Càng đi xa khỏi những truyền thống Giáo Hội vốn đặt trọng tâm vào thần học bí tích và thần học Thánh Thể, chẳng hạn như Hiệp Thông Anh Giáo hay Giáo Hội Luther, thì dường như càng ít quan tâm đến giáo lý bí tích/thánh thể. Trưởng Lão Nimmo nhắc lại Cuộc tranh luận Marburg năm 1529, nơi linh mục Luther và nhà cải cách Tin lành Zwingli đã không đạt được sự đồng thuận về Thánh Thể. Hệ quả là, người ta thường phân biệt ba cách hiểu theo Tin Lành thay thế cho thuyết biến thể (transubstantiation):

  • Luther: thuyết đồng thể (consubstantiation).
  • Calvin: nuôi dưỡng thiêng liêng (spiritual feeding).
  • Zwingli: tưởng niệm (memorialism).

Trưởng Lão Nimmo nhận định rằng truyền thống Cải Cách thiên về những nhà cải cách Calvin và Zwingli, nên ngay từ đầu đã có “khả năng nội tại cho nhiều hướng đi Thánh Thể khác nhau trong truyền thống Cải Cách.” Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Chẳng hạn, với nhà cải cách Zwingli, ông thường được gắn với quan niệm Thánh Thể như một “dấu chỉ trống rỗng,” không có ý nghĩa về sự hiện diện thật sự của Đức Kitô. Trưởng Lão Nimmo cho rằng cách hiểu này là bất công, và để chứng minh, ông đưa ra những trích dẫn từ chính nhà cải cách Zwingli cũng như từ các học giả chuyên nghiên cứu về Zwingli.

Ngay trong chính quan điểm của nhà cải cách Zwingli, chúng ta đọc thấy: “Chúng tôi coi trọng và tôn kính các bí tích như những dấu chỉ và biểu tượng của các thực tại thánh thiêng.” Ông còn viết: “Qua chính các dấu chỉ ấy – bánh và rượu – Đức Kitô như được đặt trước mắt chúng ta, để không chỉ bằng tai, mà bằng mắt và vị giác, chúng ta thấy và nếm trải Đức Kitô, Đấng mà linh hồn mang trong mình và trong Người nó hân hoan.” (14) Thêm nữa: “Thánh Thể biểu thị mọi ân huệ thần linh được ban cho chúng ta trong Đức Kitô, và cũng biểu thị rằng trong lòng biết ơn, chúng ta phải ôm lấy anh em mình bằng cùng một tình yêu mà Đức Kitô đã đón nhận, cứu chuộc và cứu độ chúng ta.” (15) Trong Thánh Thể, Thân Mình Đức Kitô được chúng ta ăn lấy “một cách bí tích và thiêng liêng.” Cuối cùng, nhà cải cách Zwingli còn dùng những cụm từ như: các bí tích, kể cả Thánh Thể, “gia tăng, nâng đỡ và củng cố đức tin,” đặt các giác quan của con người “dưới sự vâng phục của đức tin.” (17)

Để kết luận cho việc đọc lại công bằng hơn về nhà cải cách Zwingli, Trưởng Lão Nimmo trích dẫn học giả W. P. Stephens, một trong những chuyên gia hàng đầu về nhà cải cách Zwingli trong thế kỷ XX: “Nhà Cải Cách Zwingli chưa bao giờ phủ nhận rằng Thân Mình Đức Kitô hiện diện thực sự, cách bí tích và mầu nhiệm trong bữa tiệc Thánh Thể.” (18)

Tiếp đó, Trưởng Lão Nimmo dẫn chúng ta đến nhà cải cách John Calvin, một nhân vật trung tâm của truyền thống Cải Cách, nhưng có phần khác với nhà cải cách Zwingli khi nói về Thánh Thể. Ông Calvin viết: “Những người theo ông Zwingli đã quên không chỉ ra sự hiện diện nào của Đức Giêsu Kitô cần được tin trong Bữa Tiệc Ly, và sự hiệp thông nào với Mình và Máu Người được lãnh nhận ở đó.” (19) Từ tác phẩm Institutes of the Christian Religion, Trưỡng Lão Nimmo trích những lời sau của nhà cải cách Calvin:

  • “Trong Bữa Tiệc Thánh, Đức Kitô truyền cho tôi hãy cầm lấy, ăn và uống Mình và Máu Người dưới hình bánh và rượu.” (20)
  • Thánh Thể là “một bữa tiệc thiêng liêng, trong đó Đức Kitô chứng thực rằng Người là Bánh ban sự sống, nhờ đó linh hồn chúng ta được nuôi dưỡng để đạt tới sự bất tử thật và hạnh phúc.” (21)
  • “Sự tham dự thánh thiêng vào Thịt và Máu Đức Kitô… được Người chứng thực và đóng ấn trong Bữa Tiệc Thánh – không phải bằng một dấu chỉ trống rỗng và vô ích, nhưng bằng việc biểu lộ hiệu quả của Thần Khí Người để thực hiện điều Người hứa.” (22)
  • Hiệp thông Thánh Thể với Mình và Máu Đức Kitô diễn ra khi “Đức Kitô trao ban và trình bày thực tại được biểu thị ở đó cho tất cả những ai tham dự bữa tiệc thiêng liêng này.” (23)

Kết luận của Trưởng Lão Nimmo từ chuỗi trích dẫn tư tưởng của hai nhà cải cách Zwingli và Calvin là: “Các yếu tố Thánh Thể không chỉ là chứng tá hay hình ảnh minh họa cho những thực tại thiêng liêng, nhưng chính là khí cụ và phương tiện của ân sủng Thiên Chúa, và do đó là một phương thế ban ân sủng” (24). Nói cách khác, theo chính lời Trưởng Lão Nimmo, trong thần học Cải Cách có nhiều tính hiện thực Thánh Thể hơn người ta thường nghĩ, và việc thiếu nhận thức này có thể bắt nguồn từ sự thờ ơ thần học hoặc giáo lý chưa đầy đủ. Hàm ý của bài viết là: những Kitô hữu dấn thân cho đại kết không thể hài lòng với tình trạng này.

Kết luận

Nhiều thần học gia từ mọi truyền thống Kitô vẫn tiếp tục viết về Thánh Thể trong thời đại chúng ta. Việc tập trung vào ba tác giả – cha Daly, sơ Wood, và vị Trưởng Lão Nimmo – là có chủ ý, bởi công trình của họ vừa sắc bén vừa dễ tiếp cận, đem lại điều mà linh mục-thần học gia Rahner đã mô tả ngay từ đầu bài viết này như một “sự xác tín” trong niềm tin Thánh Thể.

Lợi ích từ các quan điểm của những thần học gia này là gì? Có hai điểm đặc biệt:

  1. Đối với mọi Kitô hữu, một cái nhìn đại kết thấm nhuần là điều cấp thiết và khẩn trương, nhất là khi bàn đến Thánh Thể.
  2. Trong khi không được giảm sút lòng sùng kính và linh đạo Thánh Thể của Công Giáo, người Công Giáo cần vươn tới một sự hiểu biết sâu xa hơn rằng Thánh Thể kiến tạo nên Giáo Hội, và do đó cần hướng đến một thần học Thánh Thể mang chiều kích Giáo hội rõ rệt hơn.

Cả hai lợi ích này đều đáng quý, bởi chúng giúp xây dựng ý thức rằng chúng ta là một Thân Mình trong Đức Kitô, và hy vọng thúc đẩy ngày mà mọi Kitô hữu có thể cùng nhau chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể của Chúa.

Ghi chú:

(1) Karl Rahner, SJ, “The Presence of Christ in the Sacrament of the Lord’s Supper,” Theological Investigations, vol. VI, (New York: Crossroad, 1982), 288.

(2) Josef Neuner and Jacques Dupuis, ed., The Christian Faith (London: Collins, 1983), 45

(3) Gabriel Daly, OSA, “How Can This Man Give Us His Flesh to Eat?” One in Christ 47 (2013). Page references to the three articles are provided in parentheses.

(4) Susan K. Wood, “The Ecclesial Meaning of the Eucharist,” in Carl E. Braaten, Alberto L. Garcia, and Susan K. Wood, ed., Critical Issues in Ecclesiology (Grand Rapids: Eerdmans, 2011), 105-119.

(5) Published as Susan K. Wood, Spiritual Exegesis and the Church in the Theology of Henri De Lubac, SJ (Grand Rapids: Eerdmans, 1998).

(6) Paul Nimmo, “The Eucharist in Reformed Perspective,” Doctrine and Life 65 (2015), 16-34.

(7) Published as Paul T. Nimmo, Being in Action: The Theological Shape of Barth’s Ethical Vision (London: Bloomsbury/T. & T. Clark, 2011).

(8) Gabriel Daly, OSA, Transcendence and Immanence: A Study in Catholic Modernism and Integralism (Oxford: Clarendon Press, 1980).

(9) Reported in The Irish Times, Thursday, June 7, 2012, 13.

(10) I find it somewhat curious that in his treatment of transubstantiation Daly does not refer to the outstanding work of the American Reformed theologian George Hunsinger, whose work would have confirmed Daly’s position. See Owen F. Cummings, “Eucharist, Ecumenism, and George Hunsinger,” Emmanuel 119 (2013), 418-431, 434 436.

(11) Frank Senn, The People’s Work: A Social History of the Liturgy (Minneapolis: Fortress Press, 2006), 168.

(12) See also Owen F. Cummings, Eucharistic Doctors (New York-Mahwah: Paulist Press, 2005), 215-223.

(13) “An Exposition of the Faith,” in Zwingli and Bullinger, ed. G. W. Bromiley (Library of Christian Classics volume 24) (Louisville: Westminster-John Knox Press, 2006), 247.

(14) Ibid., 248.

(15) Ibid., 249.

(16) Ibid., 257. For a consideration of Zwingli using other Zwingli specialists, especially Jacques Courvoisier, see Owen F. Cummings, “The Reformers and Eucharistic Ecclesiology,” in his Eucharistic Soundings (Dublin: Veritas Publications, 1999), 45-48.

(17) “An Exposition of the Faith,” in Zwingli and Bullinger, 263.

(18) W. P. Stephens, The Theology of Huldrych Zwingli (Oxford: Clarendon Press, 1986, 250).

(19) John Calvin, Short Treatise on the Lord’s Supper, 56.

(20) John Calvin, Institutes, IV.17.32.

(21) Ibid., IV.17.1.

(22) Ibid., IV.17.10.

(23) Ibid.

(Chuyển ngữ: Lm. Giu-se Đinh Đức Huỳnh, SSS)

Nguồn: dongthanhthe.net

 

Mời góp ý kiến để khích lệ tác giả

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.