HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA: BIỂU TƯỢNG HAY THẦN TƯỢNG?
(Image of God: Icon or Idol?)
Tác giả: Diane Bergant, CSA.
(Trích Tạp Chí Emmanuel / Linh Đạo Thánh Thể –
Tháng 5 / Tháng 6, 2020 – Trang 147 – 152)
Dianne Bergant, CSA, là một giáo sư danh dự về Kinh Thánh tại Liên hiệp Thần học Công giáo ở Chicago. Bà từng giữ vị trí Chủ tịch Hiệp hội Kinh Thánh Công giáo Hoa Kỳ và có nhiều đóng góp quan trọng cho chương trình ‘The Bible Today’, tham gia Ban biên tập suốt 25 năm và từng là Tổng biên tập. Bà cũng là tác giả của nhiều bài viết và sách, bao gồm Genesis (2013) và A New Heaven, A New Earth (2016).
Giáo lý Kinh Thánh về con người được tạo dựng theo “hình ảnh Thiên Chúa” dạy chúng ta điều gì về mối tương quan của chúng ta với muôn loài muôn vật mà Thiên Chúa yêu thương tạo dựng? Điều gì khiến chúng ta luôn say mê vũ trụ bao la? Ban ngày, ta tìm đến mặt trời để cảm nhận hơi ấm và sự an ủi, ban đêm, bầu trời rộng lớn khiến ta trầm trồ kinh ngạc. Từ xưa đến nay, con người vẫn luôn bị thu hút bởi sự hùng vĩ, sức mạnh và sự bí ẩn của vũ trụ. Nhiều người tin rằng các vì sao che giấu bí ẩn về tương lai của chúng ta. Vì thế, không có gì lạ khi các thiên thể thường được xem là thần thánh. Cách chúng ta hiểu về vũ trụ luôn tác động đến niềm tin và nhận thức tôn giáo của chúng ta.
Sự ảnh hưởng của các thiên thể có thể được thấy trong suốt lịch sử khám phá khoa học. Khi Pythagoras khẳng định rằng trái Đất (1) là một hình cầu chứ không phải mặt phẳng, điều này đã thách thức niềm tin phổ biến rằng Chúa ngự trên các tầng trời cao. Mô hình vũ trụ nhật tâm của Copernicus tiếp tục làm lung lay quan niệm về quyền tối thượng của con người trong vũ trụ. Sự hiểu biết của Darwin về tiến hóa phủ nhận ý tưởng rằng loài người được tạo ra một cách trực tiếp. Những khám phá này đã khiến các quan điểm tôn giáo truyền thống phải điều chỉnh và diễn giải lại, dù quá trình này không hề đơn giản.
Hiện nay, chúng ta cũng đang đối mặt với một tình huống mang tính cách mạng khoa học. Các nhà vũ trụ học hiện đại cho rằng vũ trụ đang phát triển, không phải đã hoàn tất trong sáu ngày sáng tạo, bất kể cách hiểu về sáu ngày này. Họ khẳng định rằng có những vũ trụ song song với vô số thiên hà, trong đó có thể có những hành tinh đủ điều kiện để duy trì sự sống. Nếu điều này là đúng, chúng ta phải hiểu như thế nào về khẳng định của Kinh Thánh rằng loài người là ưu việt? Làm thế nào để hòa hợp phát hiện khoa học hiện đại với thông điệp tôn giáo của Kinh Thánh, vốn tập trung vào con người và phản ánh một nhận thức cổ về vũ trụ cũng mang tính quy nhân? Đây chính là thách thức đặt ra cho chúng ta ngày hôm nay.
Vào năm 1967, Giáo sư Lynn White Jr. đã đăng một bài viết trên tạp chí Science với tiêu đề “Nguồn Gốc Lịch Sử Của Cuộc Khủng Hoảng Sinh Thái Của Chúng Ta.” Trong đó, ông cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng này là do truyền thống Do Thái – Ki-tô giáo, đặc biệt là Ki-tô giáo phương Tây. Ông lập luận rằng: “Khi phá bỏ ‘thuyết vạn vật có hồn’ của ngoại giáo, Ki-tô giáo đã mở đường cho việc khai thác thiên nhiên mà không cần quan tâm đến cảm xúc của các thực thể tự nhiên.” (2) Ông cũng nhấn mạnh: “Công nghệ hiện đại ít nhiều có thể được hiểu như một biểu hiện mang tính phương Tây của giáo lý Ki-tô giáo về sự siêu việt và quyền thống trị của con người đối với thiên nhiên.” (3) Cho đến nay, ông vẫn đặt ra một câu hỏi khiến những người có niềm tin tôn giáo phải suy ngẫm: “Chúng ta sẽ làm gì với vấn đề sinh thái? Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta nhìn nhận mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Khoa học và công nghệ không thể giúp chúng ta vượt qua cuộc khủng hoảng sinh thái hiện tại, trừ khi chúng ta tìm ra một tôn giáo mới hoặc xem xét lại tôn giáo của mình.” (4)
Trong thông điệp Laudato Si’, Đức Giáo hoàng Phanxicô phê phán điều mà ngài gọi là chủ nghĩa nhân trung (anthropocentrism) méo mó, áp đặt (x. Laudato Sí 68, 69, 119, 122). Theo ngài, đây là một quan điểm cho rằng con người là trung tâm của mọi sự sáng tạo và là tiêu chí để đánh giá mọi thứ khác. Quan điểm này thường không quan tâm đến các sinh vật khác, trừ khi chúng phục vụ cho lợi ích của con người. Cách nhìn này thường được củng cố bởi một sự diễn giải theo nghĩa đen về câu chuyện sáng tạo trong Sáng Thế Ký 1, nơi con người được mô tả như thể mang hình ảnh của Chúa và được giao nhiệm vụ “chinh phục trái đất, thống trị muôn loài” (x. St 1:26, 28). Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hơn vào câu chuyện này, chúng ta sẽ thấy một cách hiểu rất khác về vị trí của con người trong thiên nhiên.
Hình Ảnh Thiên Chúa.
Trong câu chuyện sáng tạo đầu tiên (Sáng Thế Ký 1,1 – 2, 4a), bản chất cơ bản của cặp đôi đầu tiên và nhiệm vụ của họ được thể hiện qua cụm từ “hình ảnh Thiên Chúa” và hai nhiệm vụ “chinh phục” và “thống trị” (câu 27-28). Trong thế giới cổ đại, con người tạo ra hình ảnh của các vị thần, không phải để coi chúng là thần linh thực sự, mà chỉ là biểu tượng của quyền lực và thẩm quyền của vị thần.
Khi ở Ai-Cập, con người chịu sự cai quản của các vị thần Ai-Cập; khi ở Lưỡng Hà, họ chịu sự cai quản của các vị thần Lưỡng Hà, v.v. Điều này giải thích sự khủng hoảng tôn giáo mà nhiều người trải qua khi bị lưu đày khỏi vùng đất của thần linh họ tôn thờ.
Sự biến động này đã làm lung lay bản sắc tôn giáo của họ. Việc dựng lên các hình tượng thần linh không khác mấy so với cách con người hiện đại tôn kính quốc kỳ như biểu tượng của quyền lực và thẩm quyền quốc gia. Mặc dù trong thời cổ đại, những hình ảnh này đôi khi được xem là thần linh thực sự, nhưng mục đích ban đầu có thể chỉ là đại diện cho quyền lực.
Vì hình ảnh của các vị thần trong thời cổ đại mang ý nghĩa đại diện cho quyền lực và thẩm quyền, nên khi nói rằng cặp đôi đầu tiên được tạo dựng theo “hình ảnh Thiên Chúa,” điều đó có nghĩa là họ được giao phó để phản ánh nơi và cách Thiên Chúa thực thi quyền lực. Tuy nhiên, họ không phải là thần linh, nhưng vẫn có xu hướng muốn trở thành thần, giống như cách con người tôn thờ các hình tượng thần linh. Sáng Thế Ký, chương 3 cho thấy rằng đây chính là tội lỗi của cặp đôi đầu tiên. Họ không hài lòng với việc chỉ là “hình ảnh Thiên Chúa,” tuân theo chỉ dẫn của Ngài và phản ánh quyền lực của Ngài. Theo trình thuật, con rắn đã cám dỗ họ bằng lời hứa rằng nếu ăn trái cấm, họ sẽ trở nên giống như thần linh, biết điều thiện và điều ác. (x. Stk 3, 5) Điều này khiến họ chọn làm trái lệnh của Thiên Chúa, và tội lỗi của họ không chỉ là sự bất tuân mà còn là sự kiêu ngạo.
Trong sách ngôn sứ Êzêkiel, vị ngôn sứ đã sử dụng câu chuyện về tội lỗi trong Sáng Thế Ký để chỉ trích hoàng tử Tyre, người đã để sự giàu có và thành công khiến mình trở nên kiêu ngạo. Sự tự cao này dẫn đến bạo lực và sự áp bức trong xã hội:
Vì ngươi đem lòng tự cao tự đại nên ngươi đã nói “Ta là thần, ta ngự trên ngai các thần, giữa trùng dương”
Ngươi chỉ là người, chứ không là thần mà lại dám cho mình ngang hàng với thần thánh.
(Ed 28, 2.)
Sự ngạo mạn đã khiến hắn sụp đổ:
Trước mặt những kẻ sắp giết ngươi đó, liệu ngươi còn nói được: “Ta là thần” nữa chăng? Đang khi ở trong tay những kẻ sắp đâm ngươi, ngươi chỉ là người chứ không phải thần thánh.
(Ed 28, 9)
Phép ẩn dụ “hình ảnh Thiên Chúa” mang nhiều khía cạnh sâu xa trong bối cảnh này. Trong xã hội cổ đại, các vị vua và hoàng hậu thường được xem là mang yếu tố thần linh. (Điều này giải thích tại sao chế độ quân chủ từng là một thách thức đối với quyền lực tối cao của Thiên Chúa Israel). (5) Những huyền thoại sáng thế phản ánh mong muốn của con người trong việc duy trì sự ổn định của thế giới và xã hội. Trong tư duy thời cổ, các vị thần và trật tự xã hội liên kết chặt chẽ đến mức chế độ quân chủ trở thành một phần của vũ trụ quan.
Đối với người Ai-Cập, cuộc sống của họ được định hình bởi sự tuần hoàn của sông Nile, và do đó, chế độ quân chủ là một phần tất yếu của trật tự sáng thế/tạo thành. Quyền lực của vua pharaoh được xem như sự tiếp nối tự nhiên của công trình sáng tạo, và sự thống trị tuyệt đối của ông được hợp thức hóa như một biểu hiện của quyền năng sáng tạo. Trên thực tế, thần Re thường được xem là vị vua đầu tiên của Ai-Cập, và mỗi vị vua pharaoh kế nhiệm đều được coi như sự hóa thân của thần Horus.
Các văn bản cổ của vùng Mesopotamia cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác biệt rõ rệt. Ngoài các chu kỳ mùa đều đặn, vùng Mesopotamia phải đối mặt với những yếu tố thiên nhiên hỗn loạn. Điều này được phản ánh trong các truyền thuyết sáng thế của họ. Nguồn nước, chủ yếu từ hai con sông Tigris và Euphrates, thường xuyên cuồng loạn và đe dọa hơn là hiền hòa và hữu ích như sông Nile. Do đó, nước trở thành biểu tượng của sự hỗn mang. Những thần thoại chính của vùng Mesopotamia mô tả một cuộc chiến khốc liệt giữa các thế lực thần linh đối địch, dẫn đến chiến thắng của một vị thần nhân từ trước sự hỗn loạn và sự thiết lập trật tự trong vũ trụ. Trong các truyền thuyết này, vị thần chiến thắng được miêu tả như một chiến binh và được tôn làm vua. Chỉ sau chiến thắng mang tính vũ trụ này, sự sáng tạo mới diễn ra.
Người Mesopotamia không xem vương quyền thần thánh là một phần tất yếu của hệ thống thần linh có trật tự. Thay vào đó, họ coi nó như một biện pháp đối phó với sự rối loạn và lo âu giữa các vị thần. Các cuộc khủng hoảng tự nhiên và chính trị buộc các vị thần phải chấp nhận quyền lực của một vị vua phàm trần. Dù tin rằng vương quyền được ban từ thiên giới, họ không xem nó là một thực tại thần thánh. Không giống người Ai-Cập, những người xem vua pharaoh như một vị thần, người Mesopotamia coi vua của họ là một con người bình thường với trách nhiệm cai trị đặc biệt. Vì các vị thần ban quyền lãnh đạo, họ cũng có thể tước bỏ quyền đó và trao nó cho người khác. Rõ ràng, quan niệm của người Israel về chế độ quân chủ có nhiều điểm tương đồng với tư tưởng của người Mesopotamia hơn là Ai-Cập.
Sự kiêu ngạo của con người ngày nay có thể bắt nguồn từ việc họ không nhận thức được hoặc không muốn thừa nhận sự hạn chế của quyền lực con người đối với thế giới tự nhiên.
Vì “hình ảnh Thiên Chúa” được hiểu như một dấu hiệu vương quyền, cho nên câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng Thế Ký 1 mô tả người đàn ông và người phụ nữ đầu tiên như một vị vua và hoàng hậu. Hơn nữa, các từ “khuất phục” và “cai trị” mang sắc thái vương giả, cho thấy rằng chế độ quân chủ có trách nhiệm kiểm soát sự hỗn loạn nguy hiểm và duy trì quyền lực trong lãnh thổ.
Từ những hiểu biết này, có thể thấy người Israel cổ đại đã kết hợp các yếu tố của tư tưởng vương quyền vùng Cận Đông vào cách hiểu về chế độ quân chủ của mình, dù sau đó họ đã điều chỉnh nó để phù hợp với niềm tin độc thần của họ. Mặc dù chế độ quân chủ có mối quan hệ đặc biệt với Chúa và hoạt động như một đại diện của Ngài, mối quan hệ này không khiến nó trở thành thần thánh. Là hình ảnh của Chúa, các vị vua Israel là sứ giả của quyền tối thượng của Ngài. Họ được giao nhiệm vụ kiểm soát những tình huống hỗn loạn và duy trì trật tự trong lãnh thổ của mình, bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, họ phải hành động theo cách mà Chúa sẽ làm—đảm bảo sự phồn vinh của tạo vật, không lợi dụng hay bóc lột nó. Cuối cùng, họ phải luôn nhớ rằng “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài” (Tv 24, 1) và rằng mọi sự sáng tạo đều có giá trị bởi vì Đấng Sáng Tạo đã thấy rằng tất cả đều “rất tốt lành” (Sáng Thế Ký 1, 31).
Theo cách hiểu này về câu chuyện sáng tạo, chúng ta nhận ra rằng con người không phải là những kẻ có quyền tuyệt đối đối với thế giới tự nhiên, cũng không có giấy phép để khai thác trái đất hay áp bức các sinh vật khác, như một số cách đọc theo nghĩa đen từng tuyên bố. Thay vào đó, họ được giao một nhiệm vụ đầy trách nhiệm đối với thế giới mà họ thuộc về, và họ phải chịu trách nhiệm trước Đấng Sáng Tạo về cách quản lý thế giới đó. Cách tiếp cận về trình thuật sáng tạo này thách thức mọi tư tưởng độc đoán và lệch lạc về quyền cai trị của con người đối với thiên nhiên. Việc không nhận thức hoặc từ chối thừa nhận những giới hạn của quyền lực con người có thể là cốt lõi của sự kiêu ngạo mà nhiều người ngày nay thể hiện trong thái độ đối với thế giới.
Nhiều người vẫn nuôi tham vọng “trở thành thần thánh,” tự cho mình quyền lực vô hạn đối với người khác và đối với thiên nhiên. Lòng kiêu hãnh luôn là một sự cám dỗ không dễ vượt qua.
Kết luận
Chủ nghĩa nhân văn lệch lạc cho rằng con người vĩ đại hơn thực tế. Ngược lại, khoa nhân chủng học xác thực nhận ra rằng con người không phải là thần thánh, cũng không hoàn toàn có quyền kiểm soát mọi thứ, như một số cách diễn giải câu chuyện Sáng Thế Ký có thể đã giả định. Tuy nhiên, những giới hạn của con người không làm suy giảm vẻ đẹp của bản chất nhân loại. Người nam và người nữ là hình ảnh của Chúa, được giao trọng trách quản lý và bảo vệ thế giới. Câu chuyện Kinh Thánh về hình ảnh con người chất vấn tư tưởng nhân văn lệch lạc bằng cách nhắc nhở chúng ta không vượt quá vai trò mà mình đã được tạo dựng để đảm nhận.
Ghi chú:
(1) Nhiều nhà sinh thái học ngày nay nhận định rằng Trái Đất (viết hoa chữ E) là một thực thể có quyền và vị thế riêng, chứ không phải là một đối tượng bị con người chi phối hoàn toàn.
(2) Lynn White, Jr., “The Historical Roots of Our Ecologic Crisis,” (Những căn nguyên lịch sử của cuộc khủng hoảng sinh thái,) Science 155 (1967): 1205.
(3) Ibid. 1206
(4) Ibid. 1206
(5) “…chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng” (1 Sam 8, 7b).
(6) Ngoài câu chuyện về trận đại hồng thủy (Stk 7, 6-24), Kinh Thánh có nhiều đoạn đề cập đến những vùng nước hỗn loạn (Pss 29, 3; 46, 4; Mc 6, 28; v.v.)
(8) Thông qua ngôn sứ Nathan, Chúa cho ông David biết rằng người thừa kế ông sẽ gắn bó với Ngài theo cách đặc biệt, tương tự như mối quan hệ phụ tử trong các vương triều thời bấy giờ: “Ta sẽ làm cha nó, và nó sẽ làm con Ta.” (2 Sam 7, 14).
(Chuyển ngữ: Lm. Giu-se Đinh Đức Huỳnh, SSS)
Nguồn: dongthanhthe.net
