VIỆC RƯỚC LỄ THƯỜNG XUYÊN:
LÀ PHẦN THƯỞNG HAY LÀ NHU CẦU TÂM LINH?
TÍNH LIÊN TỤC VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỜI
CỦA GIÁO HUẤN THÁNH THỂ TỪ ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ IX
VÀ ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ X.
(Frequent Communion: Reward or Spiritual Need? The Continuing Relevance of the Eucharistic Teachings of Pius IX and Pius X) – Tác giả: Ernest Falardeau, SSS – (Trích Tạp chí Emmanuel/Linh Đạo Thánh Thể – Tháng 1/ Tháng 2, Năm 2020 – Trang: 21-25)
| Cha Ernest Falardeau, Dòng Thánh Thể, đã hiến trọn đời mình cho lý tưởng hiệp nhất Kitô giáo. Ngài từng là Người Phụ Trách Đại Kết của Tổng Giáo phận Santa Fe trong nhiều năm, và đã để lại nhiều tác phẩm giá trị về đại kết và Thánh Thể. |
| Trong Công đồng Vatican I và những năm kế tiếp, những ai đã cất tiếng khích lệ việc rước lễ thường xuyên? Và hôm nay, những tiếng nói ấy là ai? |
Giới Thiệu:
Đức cố giáo hoàng Piô IX (1846–1878) và Đức cố giáo hoàng Piô X (1903–1914) có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Đức Piô IX sống trong thời khắc giao thời, khi những triết thuyết mới làm rung chuyển thế giới và Giáo hội. Linh mục John W. O’Malley, SJ đã khắc họa những biến động ấy trong tác phẩm lịch sử xuất sắc của ngài về Công đồng Vatican I. Từ ánh sáng của thời Khai sáng, qua những biến cố bi thương của Cách mạng Pháp và thời kỳ Napoléon, đến sự hình thành các quốc gia dân tộc, tất cả đã đưa nhân loại vào một thực tại mới. Đức cố giáo hoàng Piô IX đã hỏi các Hồng y xem có cần một Công đồng đại kết để ngăn chặn hỗn loạn đang đe dọa hay không. Câu trả lời là có. Ngài đã triệu tập Công đồng, nhưng bước chân của quân Garibaldi phá vỡ Porta Pia đã chấm dứt Quốc gia Giáo hoàng và Công đồng, mở ra một kỷ nguyên mới cho châu Âu và thế giới.
Đức Piô IX hiện lên như một Giáo hoàng mang dáng dấp quân vương. Ngài là một hoàng tử của Giáo hội và của quốc gia. Năm 1854, ngài tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, củng cố giáo lý Công giáo, đồng thời phê chuẩn ‘Bản Liệt Kê Các Sai Lầm’ (Syllabus of Errors) vốn gây nhiều tranh luận giữa các thần học gia thời đó và sau này bị đặt lại vấn đề bởi phong trào Trở Về Nguồn (Ressourcement) của Công đồng Vatican II. Các đại biểu theo phái Ultramontane (Ủng hộ quyền tối thượng của Đức giáo hoàng) tại Công đồng Vatican I tin rằng chỉ có quyền lực tuyệt đối của ngôi Giáo hoàng mới đủ sức ngăn chặn những làn sóng hỗn loạn của Thời Khai sáng và các lực chính trị đang hoạt động lúc bấy giờ.
Đức Piô X xuất thân từ một thế giới khác. Ngài sinh tại Riese, một thị trấn nhỏ ở miền bắc Ý, trong một gia đình nông dân. Ngài là một mục tử, quan tâm đến sự thánh thiện của Kitô hữu hơn là lợi ích chính trị của họ. Giống Đức giáo hoàng Piô IX, ngài kiên quyết chống lại Chủ nghĩa Hiện đại, Thuyết Tương đối, và cả Chủ nghĩa Khắc kỷ (Jansenism). Ngài cho xuất bản Sách Giáo lý Rôma, ban hành các thông điệp về âm nhạc phụng vụ (đặc biệt là Thánh ca Gregorian và đa âm) và cải cách Giáo luật, mở đường cho Bộ Giáo luật đầu tiên năm 1917.
Đặc biệt, hai sắc lệnh về Thánh Thể của ngài đã được xuất bản và đã thay đổi thực hành tôn giáo: khuyến khích Rước lễ thường xuyên (1905) và mở rộng cho trẻ em được Rước lễ lần đầu sớm (1910). Hai sắc lệnh này do Hội đồng Giáo hoàng về Bí tích chuẩn bị và được ngài phê chuẩn. Hai sắc lệnh này nhằm giải quyết tình trạng thờ ơ của giáo dân đối với việc lãnh nhận Thánh Thể, cũng như những rào cản ngăn cản trẻ em được rước lễ sớm và thường xuyên. Đây là bước tiến quan trọng, phá bỏ những rào cản do phái Khắc kỷ (Jansenists) duy trì trước và sau triều đại của Đức Piô IX và Đức Piô X.
Trong bối cảnh ấy, đóng góp của Dòng Thánh Thể và thần học gia, Bề trên Tổng quyền Eugene Couet, SSS. tuy ít được biết đến, ngay cả trong nội bộ Dòng, nhưng vẫn là một phần quan trọng trong lịch sử thần học và phụng vụ.
| Thánh Công Đồng Tren-tô (Về việc Rước Lễ thường xuyên và hằng ngày) (1905) (4) |
Thánh Công đồng Tren-tô cổ vũ và bảo vệ “việc rước Thánh Thể thường xuyên, thậm chí hằng ngày,” đồng thời nhắc lại sự xác nhận của Công đồng về nền tảng Kinh Thánh, giáo luật và phụng vụ của tuyên bố này, vốn đã được minh chứng trong lời thiết lập Bí tích Thánh Thể, trong truyền thống các Giáo phụ và trong thực hành phụng vụ từ buổi sơ khai của Giáo Hội. Đức Piô X đã phê chuẩn văn kiện của Ủy ban Giáo hoàng về các Bí tích.
Đức Piô X đồng quan điểm với Đức Piô IX về Thánh Thể. Ngài mạnh mẽ chống lại những rào cản do phái Jansenist và những người khác dựng lên, vốn muốn hạn chế việc rước lễ vào những thời điểm hiếm hoi và cố định với cớ là để kính trọng việc rước Thánh Thể. Sắc lệnh nhấn mạnh rằng rước lễ là để làm đẹp lòng Thiên Chúa, để kết hiệp mật thiết hơn với Ngài qua đức ái, và để lãnh nhận phương dược thần linh chữa lành sự yếu đuối. Các ngài khẳng định Thánh Thể không phải là phần thưởng, nhưng là lương thực thiêng liêng cần thiết cho sự trưởng thành và là sự bảo vệ chống lại tội lỗi hằng ngày cũng như tội trọng.
| Đức Piô X đồng quan điểm với Đức Piô IX về Thánh Thể. Ngài mạnh mẽ chống lại những rào cản do phái Jansenist và những người khác dựng lên, vốn muốn hạn chế việc rước lễ vào những thời điểm hiếm hoi và cố định với cớ là để kính trọng việc rước Thánh Thể. |
Đức Piô IX và Đức Piô X đều chống lại phái Jansenist, những người đặt ra nhiều điều kiện để hạn chế việc rước Thánh Thể thường xuyên và hằng ngày. Thánh Công đồng Tren-tô đã mô tả chủ nghĩa khắc kỷ (Jansenism) như “một dịch bệnh lan rộng,” bởi các tác giả theo chủ nghĩa này cạnh tranh nhau trong việc áp đặt những yêu cầu ngày càng khắt khe cho việc rước lễ. Sắc lệnh đã lên án quan điểm cho rằng những người buôn bán và những người đã kết hôn không xứng đáng được rước lễ thường xuyên.
Sắc Lệnh ‘Thật Là Đặc Biệt’/Quam Singulari (Rước Lễ Lần Đầu của Trẻ em) (1910) (5)
Năm 1910, Đức Giáo hoàng Piô X đã phê chuẩn văn kiện thứ hai của cùng Ủy ban Giáo hoàng, cho phép trẻ em được rước lễ lần đầu và rước lễ thường xuyên khi chúng có thể phân biệt giữa Thánh Thể và bánh thường. Lời Kinh Thánh “Cứ để trẻ em đến với Thầy” (Mc 10, 14) được trích dẫn cùng với truyền thống Giáo Hội sơ khai để cho phép trẻ sơ sinh được lãnh nhận Thánh Thể cùng với phép Rửa và thường xuyên. Công Đồng Lateran IV (1215) nhắc nhở Giáo Hội rằng trẻ em đến tuổi khôn (thường khoảng 7 tuổi) buộc phải xưng tội và rước lễ hằng năm. Thực hành này đã “mai một” trong Giáo Hội Latinh sau Công đồng Lateran IV. Công Đồng Trento đã khôi phục lại truyền thống trước đó: “Tất cả Kitô hữu, nam cũng như nữ, khi đã có khả năng phân định, buộc phải rước lễ ít nhất mỗi năm một lần vào dịp Phục Sinh.” (6)
Sắc lệnh Quam Singulari nhấn mạnh rằng việc tách biệt điều kiện cho Bí tích Giải tội và Bí tích Thánh Thể là sai lầm. Phái Jansenist và những người khác cho rằng chỉ cần biết phân biệt đúng sai là đủ cho Bí tích Giải tội, nhưng đối với Thánh Thể thì phải có tuổi cao hơn, kiến thức đầy đủ hơn về đức tin và sự chuẩn bị tâm hồn kỹ lưỡng hơn. Một số người còn yêu cầu trẻ phải 10, 12, 14 tuổi hoặc hơn mới được rước lễ lần đầu. Sắc lệnh đã tái khẳng định Công đồng Lateran IV và tham chiếu giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô cùng lá thư của Đức Piô IX gửi Hồng y Antonelli cho các Giám mục Pháp, “nghiêm khắc lên án thói quen ngày càng lan rộng ở một số giáo phận trì hoãn việc rước lễ lần đầu của trẻ em.”
Tuổi khôn để xưng tội và rước lễ là như nhau. Không cần có kiến thức đầy đủ và hoàn hảo về giáo lý Kitô giáo để được rước lễ lần đầu; giáo lý Kitô giáo sẽ được học dần dần. Sắc lệnh cũng lên án việc không cho trẻ em lãnh nhận Bí tích Của ăn đàng (Viaticum) và Xức dầu bệnh nhân, cũng như việc chôn cất trẻ em theo nghi thức dành cho trẻ sơ sinh, coi đó là “một lạm dụng không thể chấp nhận.”
Cuộc Tranh Luận
Đức Piô IX và Đức Piô X đều phải đối diện với những vấn đề giống nhau vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX: một bên là chủ nghĩa hiện đại, một bên là chủ nghĩa Jansenius (Jansenism). Đức Piô X đã phê chuẩn hai văn kiện mục vụ về việc rước lễ thường xuyên và rước lễ lần đầu của trẻ em, đồng thời bảo vệ Giáo Hội trước chủ nghĩa hiện đại. Cả hai vị giáo hoàng đều đã được phong thánh trong thời hiện đại. Linh mục- Học giả John W. O’Malley SJ, người đã viết rất sâu sắc về Công đồng Vatican I, Vatican II và Công Đồng Trento, tin rằng ảnh hưởng của các Công đồng này vẫn còn tồn tại trong thời đại chúng ta.
Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để giữ cân bằng giữa một thế giới ngày càng thế tục và duy vật, khoa học và trung tín, vừa làm việc cho công bằng xã hội vừa tìm kiếm sự tăng trưởng thiêng liêng? Các thần học gia xưa và nay vẫn đang cố gắng tìm cách thích ứng trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và sâu xa. Đức Piô IX nhấn mạnh sự tiết chế, chính xác và tôn trọng truyền thống. Đức Piô X nhấn mạnh việc giải thích đúng các bí tích, lòng tôn kính, và nhu cầu thiêng liêng của trẻ em và giáo dân.
Linh Mục Eugene Couet, SSS (7)
Được chuẩn bị và học hỏi trong Hội dòng từ Thánh Phêrô Julian Eymard, đấng sáng lập Dòng Thánh Thể, và với học vị tiến sĩ từ Đại học Giáo hoàng Gregorian ở Rôma, cha Eugene Couet, SSS., đã tham gia cuộc tranh luận [về việc Rước Lễ thường xuyên]. Ngài sinh tại giáo phận Angers, Pháp, năm 1858. Ngài nhận bằng cử nhân, và khi 20 tuổi, vào nhà tập tại St Maurice, mặc tu phục vào ngày lễ Chúa Giáng Sinh năm 1878. Hai năm sau, do sắc lệnh trục xuất ở Pháp, ngài sang Bruxelles và khấn lần đầu. Ngài được truyền chức linh mục tại Rôma năm 1884 và nhận bằng tiến sĩ thần học năm sau đó.
Cha Couet được bầu làm Bề trên Tổng quyền Dòng Thánh Thể vào tháng 6 năm 1913 sau khi Cha Louis Estevenon, SSS qua đời tháng 12 năm 1912. Ngài là giám đốc tạp chí Annales du Très Saint Sacrement, đồng thời là Phó Tổng quyền của Dòng. Ngài cũng là giám đốc đầu tiên của Liên đoàn Thánh Thể Linh mục. Trong vai trò này, ngài tham dự Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Rôma và gặp gỡ nhiều giáo sĩ. Ngài đã xuất bản một loạt bài viết của Cha O. Coppin, một tu sĩ thuộc Dòng Đức Mẹ Chuộc Kẻ Làm Nô Lệ (Mercedarian) gốc Tây Ban Nha, ở St. Servais, Namur, với tựa đề La Sainte Communion ou Pain Quotidien (Rước lễ hay Bánh hằng ngày). Tu Viện trưởng Chatel ở Bruxelles đã phê bình bản dịch mới này và nhận được phản hồi từ Cha Lintello SJ, là người đã xác nhận rằng ngài thật hãnh diện được gắn liền với Cha Eugene Couet, và ca ngợi cha Couet là người “gần như đơn độc bảo vệ giáo huấn của Giáo Hội” về vấn đề Rước Lễ này. (8) Sắc lệnh năm 1905 của Đức Piô X đã khẳng định lại giáo huấn về rước lễ thường xuyên, vốn bị lãng quên sau Công đồng Lateran IV nhưng được phục hồi tại Công đồng Trento, và chấm dứt cuộc tranh luận này.
| Không cần có kiến thức đầy đủ và hoàn hảo về giáo lý Kitô giáo để được rước lễ lần đầu; giáo lý Kitô giáo sẽ được học dần dần. |
Kết Luận
Nghiên cứu của linh mục-học giả John W. O’Malley về Công đồng Vatican I cho thấy rằng tinh thần ‘ủng hộ quyền tối thượng của Giáo hoàng’/Ultramontane vẫn còn tác động đến Giáo Hội hôm nay. Lịch sử và giáo huấn của Giáo Hội luôn cần được đào sâu. Đôi khi ánh sáng của Kinh Thánh và Chúa Thánh Thần bị che mờ bởi những lo lắng của thời cuộc. Chính vì vậy, việc đọc ra các dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng Kinh Thánh và truyền thống luôn cần thiết và có thể thực hiện.
Ghi chú:
(1) John W. O’Malley SJ. Vatican I: The Council and the Making of the Ultramontane Church. Cambridge, MA: The Belknap Press of Harvard University Press, 2018.
(2) David I. Kertzer. The Pope Who Would Be King: The Exile of Pius IX and the Emergence of Modern Europe. New York: Random House, 2018, xxx, .474p
(3) Norman B. Pelletier, SSS. In God’s Time: A Brief History of the Congregation of the Blessed Sacrament after the Death of Saint Peter Julian Eymard (1868-2018). Cleveland, OH: Congregation of the Blessed Sacrament, 2018. especially chapter 8. A Long Stretch, p. 139-147 devoted to Fr. E. Couet.
(4) Pius X, Pope. Sancta Tridentina Synodus (1905) On Frequent and Daily Reception of Holy Communion. Issued and approved by Pope Pius X on December 20, 1905. www.ewtn.com/libary/CURIA/CDWFREQ.HTM.
(5) Pius X, Pope. Quam Singulari (1910). Decree of the Sacred Congregation of the Discipline of Sacraments on First Communion (1910] www.papalencyclicas.net/pius 10/p10quam.htm.
(6) Lateran IV (1215) chapter 21 (on obligation to receive Penance and Eucharist at least at Easter) Denzinger-Schonmetzer #812.
(7) Norman B. Pelletier. In God’s Time. Chapter 8. A Long Stretch, p. 139-147.
(8) Norman B. Pelletier. In God’s Time. P. 142
(Chuyển ngữ: Lm. Giu-se Đinh Đức Huỳnh, SSS)
Nguồn: dongthanhthe.net
