CHIA SẺ

ĐỨC GIÊ-SU ĐỨNG VỀ PHÍA AI? CHÚNG TA ĐỨNG VỀ PHÍA AI?

Chúng ta nhận biết một con người qua những gì họ làm và nói. Ta cũng nhận biết họ qua bạn hữu, người đồng hành, những kẻ mà họ chọn để gắn bó.

Điều này hoàn toàn đúng nơi Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng ghi lại lời Ngài, hành động Ngài, và những khuôn mặt Ngài đã chọn để gần gũi, gắn bó, đồng hành. Như ta sẽ thấy, đó là một nhóm người thật đặc biệt, không phải là nhóm mà một vị lãnh đạo lớn thường chọn. Nhưng Đức Giêsu không phải là một vị lãnh đạo lớn theo nghĩa thông thường. Ngài còn là một vị Thầy vĩ đại, dạy chúng ta không chỉ bằng lời nói mà còn bằng chính gương sống của Ngài.

Để tìm hiểu xem Đức Giêsu đã đồng hành với ai, ta có thể tìm đến bất kỳ Sách Tin Mừng nào. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ tập trung vào Tin Mừng theo thánh Luca, vốn được gọi là Tin Mừng của người nghèo và cho người nghèo. Như ta sẽ thấy, điều đó có lý do chính đáng. Qua cái nhìn của thánh sử Luca, Đức Giêsu đang chỉ dẫn cho các môn đệ và những kẻ theo Ngài; đồng thời, qua họ, Ngài cũng chỉ dẫn cho Hội Thánh: rằng Hội Thánh phải là Hội Thánh của người nghèo và cho người nghèo.

Năm 1962, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã mong muốn Công đồng Vatican II quan tâm đến việc làm cho Hội Thánh trở nên dễ nhận ra như Hội Thánh của mọi người, nhưng đặc biệt là Hội Thánh của người nghèo. Một trong những văn kiện chính yếu của Công đồng, Gaudium et Spes, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thánh trong Thế giới Hôm nay, đã vang vọng ý tưởng ấy qua những lời mở đầu thường được trích dẫn: “Những niềm vui và hy vọng, những ưu sầu và lo âu của con người thời nay, nhất là của những người nghèo khổ hay bất cứ ai đang đau khổ, cũng chính là niềm vui và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Đức Kitô” (số 1). Đức Giáo hoàng Phanxicô liên tục tiến bước trên con đường này, bằng chính lời giảng và việc làm cụ thể, cho thấy tấm lòng ưu ái đặc biệt đối với những người khuyết tật, trẻ thơ, bệnh nhân và những ai không nhà cửa.

Tin Mừng theo Thánh Luca – Những Người Bạn của Đức Giêsu

Ngay từ khởi đầu đời sống trong gia đình, Đức Giêsu đã gắn bó với những người đơn sơ, chứ không phải với giới quyền thế hay giàu sang. Mẹ Ngài, Đức Maria, là một thiếu nữ trẻ nơi thị trấn nhỏ Nazareth; còn thánh Giuse, bạn trăm năm của Mẹ, chỉ là một người lao động, một bác thợ mộc. Trong bài ca Magnificat, Đức Maria đã cất tiếng ca ngợi Thiên Chúa, Đấng nâng cao kẻ nghèo hèn và khiêm nhu.

Theo tường thuật của Tin Mừng Luca (2,6-8), Đức Giêsu chào đời trong máng cỏ, vì không có chỗ cho họ trong quán trọ. Ngài không được các nhà đạo sĩ từ phương Đông đến viếng thăm, nhưng lại được các mục đồng từ cánh đồng gần đó tìm đến. Khi được tiến dâng trong Đền Thờ, gia đình Ngài chỉ dâng lễ vật của người nghèo (x. Lc 2,24). Ở đó, họ không gặp các vị lãnh đạo Đền Thờ, nhưng gặp ông Simêon, một người công chính và đạo đức, cùng bà Anna, nữ ngôn sứ cao niên.

Ngoại trừ câu chuyện Đức Giêsu ở lại trong Đền Thờ, ta không còn nghe gì thêm cho đến khi Ngài khởi đầu sứ vụ công khai. Và chính nơi đó, ta thấy những con người đặc biệt mà Ngài đã chọn để đồng hành.

Diễn Từ Khai Mạc

Khởi đầu là “diễn từ khai mạc” tại quê hương Nazareth. Từ đó, suốt sứ vụ công khai, Đức Giêsu luôn trung tín với lời hứa và sứ mạng Ngài đã công bố.

Tin mừng theo thánh Luca (4,16-21) ghi lại: “Khi Đức Giê-su đến Na-da-rét, nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:

‘Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.’”

Suốt đời công khai, Đức Giêsu đã sống trung thành với lời ấy: Ngài hướng về người nghèo, kẻ bị áp bức, người mù lòa, yếu đuối, và những ai ở bên lề xã hội.

Những Người Bạn của Đức Giêsu – Được Biểu Lộ Qua Hành Động

Trong phép lạ đầu tiên, Đức Giêsu trừ quỷ ô uế ra khỏi một người (Lc 4,33-35).

 “Trong hội đường, có một người bị quỷ ô uế nhập, la to lên rằng: ‘Ông Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà Ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!’ Nhưng Đức Giêsu quát mắng nó…”

Ngay sau đó, Ngài chữa lành bà nhạc mẫu của ông Phêrô đang bị sốt nặng (4,38). Nhưng ngày đầu tiên của sứ vụ chưa kết thúc. Người tiếp tục gặp gỡ những bệnh nhân và những người cần giúp đỡ, như Tin mừng thuật lại: “Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau ốm mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: “Ông là Con Thiên Chúa!” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô” (Lc 4, 40-41).

Để tiếp tục sứ vụ, Đức Giêsu kêu gọi môn đệ. Những người đầu tiên Ngài chọn không phải là giới trí thức hay quyền thế, mà là những ngư phủ bình dân, cần cù (5,2). Gần như chỉ thoáng qua, thánh sử Luca kể lại việc Đức Giêsu giơ tay chạm đến và chữa lành một người “toàn thân phong hủi” (5,13). Cũng trong cùng chương ấy, Người lại chữa lành kẻ bại liệt được khiêng đến qua mái nhà. Đức Giêsu không chỉ chữa lành; Người còn tha thứ tội lỗi.” (5,17-26).

Ngài cũng kêu gọi ông Lêvi, người thu thuế bị xã hội xa lánh, trở thành môn đệ (5,27-29). Khi bị các kinh sư và Pharisêu trách cứ vì ăn uống với người thu thuế và tội lỗi (5, 30), Đức Giêsu khẳng định: Ngài đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng là kêu gọi tội nhân (5,32). Tiếp đó, Ngài chữa lành người bại tay ngay trong ngày sabát (6,6), cho thấy lòng thương xót vượt trên lề luật khắt khe. Dân chúng ngày càng đông, nhất là những người bệnh tật và bị quỷ ám tìm cách chạm đến Ngài, “vì từ nơi Ngài phát ra quyền năng chữa lành tất cả” (6,17-19).

Trong chương kế tiếp, Đức Giêsu bày tỏ lòng thương xót đối với bà góa thành Nain, người vừa mất đi người con trai duy nhất (Lc 7,11-17). Thánh sử Luca tóm lược: “Chính giờ ấy, Chúa Giê-su chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, Khỏi quỷ ám, và ban ơn cho nhiều kẻ mù được thấy” (7,21-22). Sau đó, Đức Giêsu bị so sánh với Gioan Tẩy Giả và bị tố cáo là bạn của những người thu thuế và tội lỗi, một lời cáo buộc mà Ngài không phủ nhận (7,34). Chương này kết thúc với câu chuyện Đức Giêsu tiếp nhận một người phụ nữ tội lỗi, để bà xức dầu trên đầu và chân Ngài, rồi tha thứ tội lỗi cho bà và sai bà ra đi trong bình an (7,44-50).

 

Sang Chương tám, thánh sử Luca cho thấy Đức Giêsu đồng hành không chỉ với nhóm Mười Hai, mà còn với một nhóm phụ nữ: “…Trong số đó có bà Maria gọi là Mađalêna, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna vợ của Khusa, quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna, và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ” (8,2-3). Đây là những phụ nữ vốn bị xã hội Do Thái khinh thường, thậm chí có người từng bị quỷ ám hay bệnh tật.

Một cảnh tượng nổi bật trong Tin mừng theo thánh sử Luca là cuộc gặp gỡ với người bị quỷ ám ở vùng Ghêrasa: ông sống trần truồng giữa mồ mả, biểu tượng cho tình trạng tuyệt vọng. Đức Giêsu không tránh né, nhưng đối thoại với ông, rồi trừ “đạo binh” quỷ ra khỏi ông, cho nhập vào đàn heo gần đó (8, 26-39). Người ấy được chữa lành, trở lại tỉnh táo, và Đức Giêsu sai ông đi loan báo những việc Thiên Chúa đã làm cho ông.

Chương này còn ghi lại hai phép lạ khác: người phụ nữ bị băng huyết đã liều lĩnh chạm vào áo Đức Giêsu và được chữa lành (8,43-44); và việc Ngài nâng dậy con gái ông Giairô, bất chấp sự chế giễu của đám đông: “Người cầm lấy tay nó, lên tiếng gọi: ‘Này bé, trỗi dậy đi.’ Hồn đứa bé trở lại, và nó đứng dậy ngay; Đức Giê-su bảo người ta cho nó ăn” (8,54-55).

Trong Chương chín, Đức Giêsu gặp một người có đứa con trai duy nhất thường la hét, co giật và sùi bọt mép. Ngài truyền đem cậu bé đến, quát mắng thần dữ và chữa lành cho em (9,37-43). Sau đó, khi các môn đệ tranh luận ai là người lớn nhất (9,46-48), Đức Giêsu đặt một em nhỏ bên cạnh mình và dạy rằng: đón nhận một trẻ nhỏ là đón nhận chính Ngài và Đấng đã sai Ngài. Trong văn hóa thời ấy, trẻ em thường bị gạt ra bên lề; ở đây, chúng được đặt vào trung tâm, trở thành dấu chỉ của tình yêu, sự tôn trọng và bảo vệ.

Tiếp đó, Đức Giêsu bước vào một làng Samari, điều khiến các môn đệ ngạc nhiên và khó chịu (9,51-56). Ngài đã dành thời gian cho những người vốn bị người Do Thái xa lánh. Sau một cuộc viếng thăm bình an tại nhà cô Matta và Maria, Ngài lại trở về với những người khốn khó: “Người trừ một tên quỷ, và nó là quỷ câm; khi quỷ xuất rồi, thì người câm nói được Đám đông lấy làm ngạc nhiên” (11,14).

Trong Chương mười ba, Đức Giêsu gặp và chữa lành “một phụ nữ bị tật nguyền suốt mười tám năm, lưng bà còng hẳn xuống và  bà không thể nào đứng thẳng lên được. Trông thấy bà, Đức Giê-su gọi lại và bảo: ‘Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!’” (13,10-13).

 

 

Khi dùng bữa tại nhà một người, Ngài lại chữa lành một người mắc bệnh thủy thũng (14,3). Trên đường lên Giêrusalem, Ngài gặp mười người phong hủi đứng xa mà kêu lớn: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi.” Ngài bảo họ “đi trình diện với các tư tế,” và khi họ đi, họ được sạch (17,11-19).

Đức Giêsu cũng nhiều lần bày tỏ tình thương với trẻ nhỏ. Thánh sử Luca kể: “Người ta còn đem cả trẻ thơ đến với Đức Giê-su, để Người đặt tay trên chúng. Thấy vậy, các môn đệ la rầy chúng. Nhưng Đức Giêsu gọi chúng lại và nói: ‘Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào’” (18,15-17).

Hành trình lên Giêrusalem tiếp tục, và bên vệ đường gần Giêricô, Đức Giêsu gặp một người mù ngồi xin ăn. Khi ông kêu cầu, bị người khác quát nạt, ông lại càng kêu lớn hơn. Đức Giêsu dừng bước, chữa lành và trả lại cho ông ánh sáng. Vào thành Giêricô, Ngài nhìn thấy ông Dakêu, người thu thuế giàu có, trèo lên cây để được thấy Ngài (19,1-10). Thay vì bỏ qua, Đức Giêsu ngước nhìn, gọi ông xuống và tự nguyện đến nhà ông, một “người tội lỗi”, để đem lại hoán cải và ơn cứu độ.

Khi vào Giêrusalem, Đức Giêsu không tiến vào trong vinh quang như một vị vua trên chiến mã, nhưng đơn sơ trên lưng lừa con (19,30). Trong Đền Thờ, Ngài chú ý đến một bà góa nghèo, ca ngợi lòng quảng đại của bà khi dâng nhiều hơn cả những người giàu có (21,1-4).

Ngài tiếp tục gắn bó với những người bình thường và bị gạt ra bên lề, ngay cả khi bước lên đồi Canvê chịu tử hình. Ông Simon thành Kyrênê, từ ngoài đồng về, đã vác đỡ thập giá cho Ngài (23, 26). Giữa đám đông theo Ngài có những phụ nữ khóc thương; Ngài gọi họ là “những con gái Giêrusalem.” Và Ngài bị đóng đinh giữa hai tên gian phi (23, 32).

Khi sống lại, Ngài không hiện ra trước những người quyền thế hay ngay cả các Tông Đồ, nhưng trước tiên với những phụ nữ đầy lòng tin và tình thương, những người đã trung thành đi đến mộ Ngài (24,10).

Ghép nối các trình thuật Tin Mừng, ta thấy hiện lên một đời sống và cái chết phi thường, để lại cho chúng ta những hình ảnh không thể phai mờ về những con người mà Đức Giêsu đã đồng hành và phục vụ.

Giáo Huấn Của Đức Giêsu Xác Nhận Hành Động Của Ngài

Chúng ta đã nhắc đến “diễn từ khai mạc” của Đức Giêsu. Những ví dụ khác trong giáo huấn cho thấy Ngài luôn gắn bó với những người bị gạt ra ngoài, những kẻ yếu đuối và túng thiếu. Trong Tin Mừng theo thánh Luca, lời giảng và việc làm của Ngài luôn đan xen, minh chứng rằng Đức Giêsu thực sự sống điều Ngài rao giảng: tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa dành cho người nghèo và kẻ bị bỏ rơi.

Trong Bài Giảng Trên Núi (?) (Lc 6,20-26), Đức Giêsu mở đầu bằng bốn mối phúc. Ba mối đầu là: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”, “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói”, và “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc” (6,20-21). Đây chính là những hạng người mà Ngài đã đứng về phía họ và đồng hành cùng họ. Giáo huấn của Ngài nhấn mạnh rằng tình yêu phải vô vị lợi, không mong đáp trả (6,35).

Trong chương kế tiếp, khi các môn đệ ông Gioan Tẩy Giả hỏi Ngài có phải là Đấng phải đến hay không, thánh sử Luca kể: “Chính giờ ấy, Đức Giêsu chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỷ ám, và ban ơn cho nhiều người mù được thấy” (7,21). Ngài trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, và kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (7,22). Rõ ràng, việc Đức Giêsu gắn bó với những hạng người này là một chọn lựa tự do, có chủ ý, và là dấu chỉ xác thực rằng Ngài được Thiên Chúa sai đến.

Trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10,25-37), Đức Giêsu dạy rằng tôn giáo chân thật chính là nhằm giúp đỡ người đang cần. Và trong Lc 14,12-13, Ngài nói với chủ tiệc: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối,… hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc.”

Chương mười lăm kể lại ba câu chuyện mạnh mẽ: con chiên lạc, đồng bạc bị mất, và người con hoang đàng. Qua đó, Đức Giêsu cho thấy chúng ta phải tìm kiếm và đưa về những gì đã lạc mất. Ngài thực sự sống điều Ngài giảng dạy.

Một ví dụ cuối cùng về những người Đức Giêsu gắn bó là câu chuyện ông nhà giàu và anh Ladarô (Lc 16,19-31). Ngài cảnh báo rằng chúng ta không được như ông nhà giàu, thờ ơ trước người nghèo ngay bên cạnh. Đức Giêsu nhấn mạnh: ơn cứu độ hay án phạt đời đời sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta đối xử với người nghèo trong đời sống hằng ngày.

Qua những cuộc gặp gỡ này và nhiều trình thuật khác trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu vừa giảng dạy, vừa chia sẻ Tin Mừng, vừa cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong những gặp gỡ thường ngày, trong đối thoại với tha nhân, và đặc biệt nơi bàn tiệc, từ bàn ăn gia đình đến bàn tiệc Thánh Thể.

Kết Luận:

Từ Tin Mừng theo thánh Luca hiện lên một chân dung phi thường của Đức Giêsu, cùng một hình ảnh nhất quán về những người Ngài thường xuyên đồng hành: bệnh nhân, người nghèo, tội nhân, kẻ yếu đuối, bị loại trừ, bị khinh khi, những phận đời khốn cùng, xa cách, và ở bên lề xã hội. Các nhà lãnh đạo tôn giáo ngỡ ngàng trước sự quan tâm Ngài dành cho họ, và ngay cả các môn đệ cũng chưa dễ dàng nhận ra bài học Ngài muốn dạy cho họ.

Nhưng chính những người nghèo và bị bỏ rơi lại là những người dễ đón nhận sứ điệp và quyền năng chữa lành của Ngài. Bị coi là hạng thấp kém trong xã hội, họ lại được Đức Giêsu chọn làm đối tượng ưu ái của tình yêu Thiên Chúa. Ngài đã nhìn họ bằng lòng thương xót, bằng sự dịu dàng của Chúa Cha. Ngài thấy nơi họ phẩm giá của người con Thiên Chúa và nhận ra điều thiện nơi họ.

Lời Đức Giêsu: “Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em” vẫn còn vang vọng hôm nay. Ngày nay, đó có thể là những người tị nạn, di dân từ Trung Đông hay châu Phi; là những người khuyết tật, mù chữ, bệnh tật ngay quanh ta; là phụ nữ vẫn chịu bất công; là những người bị bách hại và tước đoạt quyền lợi vì chủng tộc, tôn giáo hay khuynh hướng phái tính.

Suốt lịch sử, Hội Thánh đã dấn thân đối diện với những vấn đề này. Và hôm nay, dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo hoàng Phanxicô, lời mời gọi ấy càng vang vọng mạnh mẽ. Ngài hình dung Hội Thánh như một bệnh viện dã chiến giữa thời chiến, luôn sẵn sàng tiến đến nơi cần nhất. Hội Thánh không phải là một cộng đoàn an vị, chỉ thỉnh thoảng mở cửa, nhưng là một cộng đoàn luôn mở ra, luôn vươn tới.

Qua lời nói và hoạt động mục vụ, trong các chuyến thăm tại Rôma, Italia và khắp thế giới, Đức Giáo hoàng Phanxicô mau mắn và vui tươi đến với người nghèo, thúc giục chúng ta đừng thờ ơ. Ngài nhấn mạnh rằng: Kitô hữu đích thực không chỉ dừng lại ở việc trao một đồng tiền cho kẻ thiếu thốn; nhưng phải gặp gỡ và tiếp xúc với họ, như chính Đức Giêsu đã làm.

Đức Giêsu luôn là trung tâm. Nhưng Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc chúng ta rằng chúng ta đến gần Đức Giê-su nhất khi noi gương lòng thương xót, sự cảm thông và quan tâm của Ngài dành cho tha nhân, đặc biệt là những người bị bỏ rơi. Đức Giáo hoàng kêu gọi chúng ta hoán cải hướng về người nghèo, và thậm chí hoán cải nhờ chính người nghèo. Chính nơi họ, ta gặp gỡ Đức Kitô và Thiên Chúa. Đó là lời mời gọi tiến từ cảm thông đến liên đới, vì những người ở bên lề chính là biểu tượng sống động của Thiên Chúa mà ta tìm kiếm.

———

Tác giả: Peter Schineller, SJ

Trích Tạp chí Emmanuel

Tháng 7/ Tháng 8, 2016 – Trang: 216 – 223)

Chuyển ngữ: Lm. Giu-se Đinh Đức Huỳnh, SSS

Đôi điều về tác giả:

Cha Peter Schineller, người con của thành phố New York, đã từng giảng dạy thần học tại Chicago, Illinois, và Cambridge, Massachusetts. Ngài cũng đảm nhận nhiều trách vụ hành chính và giảng huấn tại Học viện Công giáo Tây Phi ở Abuja, Nigeria, cũng như tại Học viện Hekima ở Nairobi, Kenya. Hiện nay, Cha đang phục vụ tại Trung tâm Dòng Tên ở Amman, Jordan.

 

———

XIN ĐỌC PHẦN GIỚI THIỆU TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/thanh-the-song-va-loan-bao-tin-mung-giua-long-the-gioi-hom-nay.html

XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 1 TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/duc-gie-su-dung-ve-phia-ai-chung-ta-dung-ve-phia-ai.html

XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 2 TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/ket-noi-giao-huan-xa-hoi-voi-cong-cuoc-loan-bao-tin-mung.html

Mời góp ý kiến để khích lệ tác giả

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.