Năm mươi năm trước, vào ngày 7 tháng 12 năm 1965, khi Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II về Giáo Hội trong thế giới hôm nay được ban hành, nhiều Giám mục đã bỏ phiếu chấp thuận bản văn cuối cùng trong những ngày gấp rút của Công đồng, nhưng đồng thời cũng nhận ra rằng đây vẫn là một văn kiện chưa hoàn hảo, cần được tiếp tục triển khai để diễn tả trọn vẹn hơn mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới. Cần có một sự hội nhập sâu sắc giữa Giáo huấn xã hội của Giáo Hội với sứ mạng loan báo Tin Mừng, đồng thời phải lưu tâm hơn đến những thế lực trong thế giới đang chống đối Tin Mừng.
Trong tiến trình phát triển hậu Công đồng, hai khái niệm Kinh Thánh mà Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã công bố và đặt nền tảng cho Gaudium et Spes trở nên mang tính quyết định: “các dấu chỉ của thời đại” và “tình liên đới nhân loại”. Chúng ta sẽ lần lượt suy xét hai khái niệm này: nguồn gốc từ Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, cách áp dụng trong Gaudium et Spes, và ảnh hưởng của chúng trong sự phát triển giáo huấn xã hội hậu Công đồng của Giáo Hội, kể cả nơi lời mời gọi của Đức Phanxicô về “một cuộc hoán cải mục vụ” trong Tông huấn Evangelii Gaudium (2013), và “một cuộc hoán cải sinh thái” trong Thông điệp Laudato Si’ (2015).
Các Dấu Chỉ Thời Đại – Nguồn Gốc Từ Đức Giáo Hoàng
Việc Đức Giáo hoàng Gioan XXIII sử dụng khái niệm Kinh Thánh “các dấu chỉ của thời đại” để canh tân sứ mạng của Giáo Hội đối với thế giới bắt nguồn từ xác tín sâu xa của ngài: Thiên Chúa hành động trong lịch sử nhân loại để thực hiện kế hoạch thần linh là thiết lập Vương Quốc của Người trong công trình tạo dựng. Ngay từ khi còn là một linh mục trẻ dạy môn Lịch sử Giáo Hội tại Giáo phận Bergamo, cha Angelo Roncalli đã thách thức các chủng sinh của mình hãy tìm ra những bằng chứng về việc Thiên Chúa hành động trong lịch sử “để mang lại chiến thắng cho Giáo Hội”.
Nhiều năm sau, khi trở thành Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, ngài đã mở rộng lời thách thức ấy cho toàn thể Giáo Hội, coi đó là lý do chính yếu để triệu tập một Công đồng đại kết nhằm thắp lại ngọn lửa sứ mạng của Giáo Hội đối với thế giới hôm nay. Điều này được giải thích trong Tông huấn Humanae Salutis, ban hành ngày 25 tháng 12 năm 1961, trong đó ngài công bố việc triệu tập Công đồng vào mùa thu năm 1962.
Tông Huấn Humanae Salutis mở đầu bằng việc nhắc lại rằng khi Đấng Cứu Thế truyền cho các Tông đồ rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, Người đồng thời hứa, với tư cách là Chúa Phục Sinh, sẽ hiện diện và nâng đỡ họ bằng quyền năng thần linh cho đến tận thế (Mt 28,20). Đức thánh Giáo hoàng Gioan XXIII khẳng định rằng sự hiện diện và quyền năng thần linh của Đức Kitô Phục Sinh đồng hành với sứ mạng của Giáo Hội đã được biểu lộ rõ rệt nhất trong những giai đoạn nghiêm trọng nhất của lịch sử. Điều này càng trở nên quan trọng trong thời đại chúng ta, khi nhân loại đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn lao và đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới. Ngài nói rằng Giáo Hội hôm nay có “sứ mạng rộng lớn là mang những năng lực ban sự sống muôn đời của Tin Mừng” đến với một thế giới đạt được nhiều tiến bộ vật chất nhưng lại thiếu sự phát triển tương ứng trong lãnh vực luân lý. Hậu quả là các giá trị thiêng liêng bị suy yếu, con người chỉ tìm kiếm những khoái lạc trần thế, và lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện một chủ nghĩa vô thần chiến đấu, quyết tâm tái cấu trúc xã hội bằng cách loại trừ Thiên Chúa.
Mặc dù có những người trong Giáo Hội phản ứng trước khủng hoảng này bằng nỗi sợ hãi và than van, như thể quyền lực sự dữ sắp thắng thế trên trần gian, Đức Giáo hoàng lại khẳng định rằng ngài chọn đặt lại niềm tín thác: Đấng Cứu Thế không hề bỏ rơi thế giới mà Người đã cứu chuộc, và Giáo Hội có thể tìm thấy sứ mạng của mình hôm nay bằng cách phân định “các dấu chỉ của thời đại” vốn đang mở ra một sự cởi mở mới mẻ của nhân loại đối với Tin Mừng, ngay giữa bóng tối của hỗn loạn và sự dữ.
Giải thích này về mục đích của Công đồng đã được Đức Giáo hoàng Gioan XXIII lặp lại trong bài diễn văn phát thanh ngày 11 tháng 9 năm 1962, đúng một tháng trước khi Công đồng khai mạc tại Rôma. Trong bài nói ấy, ngài nhấn mạnh rằng Công đồng cần nhận ra nhiều người hôm nay đang nhạy cảm với những hấp lực của Thần Khí, và có khát vọng cũng như ý thức trách nhiệm sống trong hòa bình với nhau. Do đó, ngài nói, Công đồng phải “tôn vinh… việc áp dụng sâu xa hơn tình huynh đệ và tình yêu vốn là nhu cầu tự nhiên của con người”, đồng thời phải trình bày bằng ngôn ngữ rõ ràng những giải pháp thích hợp, đáp ứng phẩm giá của nhân vị theo “sự bình đẳng của mọi dân tộc trong việc thực thi quyền lợi và bổn phận của họ trong toàn thể gia đình nhân loại”.
Một tháng sau, vào ngày 11 tháng 10 năm 1962, trong diễn văn khai mạc trước toàn thể Công đồng, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tuyên bố: “Dưới ánh sáng của Công đồng này, Giáo Hội… sẽ trở nên phong phú hơn trong kho tàng thiêng liêng, và nhờ sức mạnh của những năng lực mới được khơi dậy, Giáo Hội sẽ hướng về tương lai mà không sợ hãi.” Nền tảng cho niềm lạc quan phi thường ấy là lời khẳng định của ngài: “Trong trật tự hiện tại của sự vật, Thiên Chúa Quan Phòng đang dẫn đưa chúng ta đến một trật tự mới trong các mối tương quan nhân loại, vốn được hình thành bởi nỗ lực của con người và thậm chí vượt quá cả những mong đợi của họ, để hướng tới việc hoàn tất những kế hoạch cao siêu và khôn dò của Thiên Chúa.”
Tuy nhiên, dù lời tuyên bố lạc quan này xuất phát từ việc ngài phân định “các dấu chỉ của thời đại”, trong diễn văn khai mạc ấy vẫn chưa có sự giải thích thêm về ý nghĩa của “trật tự mới trong các mối tương quan nhân loại” như một cơ hội loan báo Tin Mừng mà Thiên Chúa đang mở ra trong lịch sử. Sự giải thích ấy chỉ xuất hiện trong Thông điệp Pacem in Terris (Hòa Bình trên Trái Đất), được ban hành đúng sáu tháng sau, vào ngày 11 tháng 4 năm 1963.
Trong văn kiện này, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã nêu bật những phát triển hiện đại trên bốn cấp độ của các mối quan hệ xã hội, vốn được điều chỉnh bởi luật luân lý được Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và là Cha của muôn loài, ghi khắc trong tâm hồn con người. Nhờ được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, con người tham dự vào sự khôn ngoan và nhân lành của Người. Do đó, Đức Giáo hoàng nói, con người “được dạy cách tuyệt hảo, trước hết là về cách họ phải cư xử với nhau, rồi đến cách điều chỉnh mối tương quan giữa công dân và chính quyền trong mỗi quốc gia, tiếp đến là cách các quốc gia phải đối xử với nhau, và sau cùng là cách… từng cá nhân và các quốc gia, cũng như toàn thể cộng đồng nhân loại… phải hành xử với nhau…” (7).
Những mối tương quan xã hội này ban cho con người những quyền tự nhiên: quyền được sống và có một mức sống xứng đáng; quyền liên quan đến các giá trị luân lý và văn hóa; quyền thờ phượng Thiên Chúa theo lương tâm và tự do chọn lựa bậc sống; các quyền kinh tế như tự do trong hoạt động kinh tế đi đôi với điều kiện lao động xứng hợp và tiền lương công bằng; quyền hội họp; quyền di cư; và các quyền chính trị. Những quyền tự nhiên ấy đồng thời bao hàm bổn phận luân lý, bởi “trong xã hội loài người, quyền của một người luôn tương ứng với bổn phận đối với mọi người khác…” (30). Là những hữu thể xã hội, chúng ta “được mời gọi sống với nhau và làm việc cho lợi ích của nhau” (31). Vì thế, như Đức Giáo hoàng khẳng định, “mỗi người đều có bổn phận cộng tác cách sẵn sàng cho công ích” (48).
Có thể đặt vấn nạn: tại sao sự thức tỉnh lương tâm về các mối tương quan xã hội lại được coi là một phát triển hiện đại, thay vì chỉ đơn giản là bản chất vốn có của con người ngay từ khởi đầu tạo dựng? Câu trả lời đã được Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đưa ra trong thông điệp Humanae Salutis: những kinh nghiệm cay đắng gần đây từ các cuộc chiến đẫm máu và những ý thức hệ tàn phá đã khiến con người hôm nay trở nên biết suy tư hơn, ý thức rõ hơn về giới hạn của mình, khao khát sống trong hòa bình, và nhận ra nhu cầu về “sự cộng tác chặt chẽ hơn và sự hội nhập hỗ tương giữa các cá nhân, các giai tầng và các dân tộc.” Ngài nói rằng chính điều này khiến thế giới hôm nay sẵn sàng hơn so với quá khứ để đón nhận Giáo huấn của Giáo Hội như một đóng góp trong việc giải quyết những vấn đề của thời đại.
Đức Giáo hoàng Gioan XXIII nhìn thấy tất cả những phát triển hiện đại trong các mối quan hệ xã hội như biểu hiện của một nhận thức ngày càng sâu sắc về “phẩm giá của con người” (79). Điều này được minh chứng nơi người lao động đòi quyền tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa của xã hội (40); nơi phụ nữ đòi hỏi “các quyền và bổn phận xứng hợp với nhân vị cả trong gia đình lẫn nơi công cộng” (41); nơi các dân tộc từng là thuộc địa đạt tới phẩm giá của những quốc gia độc lập (42); nơi công dân các quốc gia đòi hỏi “các nhà cầm quyền dân sự phải được chọn lựa qua thủ tục hiến pháp và thi hành bổn phận trong giới hạn hiến pháp” (79); và nơi nhân loại nói chung “ngày càng xác tín… rằng những tranh chấp giữa các quốc gia phải được giải quyết không bằng vũ lực, nhưng bằng thương thuyết và thỏa thuận” (126). Chính từ đó đã dẫn đến việc thành lập Liên Hiệp Quốc “nhằm thúc đẩy các quan hệ quốc tế thân thiện dựa trên công lý, sự tôn trọng lẫn nhau và… sự hợp tác trong mọi lãnh vực,” đồng thời cũng đưa tới việc ban hành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (142f). Ngài còn nói rằng trong những phát triển hiện đại, “đời sống kinh tế của các quốc gia ngày càng trở nên liên đới,” với việc con người “ngày càng liên kết và cộng tác với nhau” (130).
Mặc dù Đức Giáo hoàng Gioan XXIII ban hành Thông điệp này sau phiên họp đầu tiên của Công đồng, nội dung của nó đã ảnh hưởng sâu xa đến định hướng nền tảng của Gaudium et Spes, vốn được hình thành phần lớn sau khi ngài qua đời ngày 3 tháng 6 năm 1963. Chính vì thế, Gaudium et Spes trở thành văn kiện của Công đồng được soạn thảo cách minh nhiên nhất để thực hiện mục tiêu tối hậu mà Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã hình dung ngay từ đầu. Bởi lý do này, Gaudium et Spes mở đầu bằng việc nhấn mạnh đến việc phân định “các dấu chỉ của thời đại”.
Áp Dụng Vào Gaudium et Spes
Trong lời dẫn nhập, Gaudium et Spes khẳng định rằng “Giáo Hội luôn có bổn phận phải xem xét các dấu chỉ của thời đại và giải thích chúng dưới ánh sáng Tin Mừng.” Điều này có nghĩa là Giáo Hội phải “nhận ra và thấu hiểu thế giới trong đó chúng ta đang sống, những kỳ vọng, khát vọng và cả những đặc tính thường mang tính bi kịch của nó” (GS, 4). Những kỳ vọng và khát vọng mà văn kiện nêu ra như đặc trưng của thế giới hôm nay phần lớn được lấy từ Pacem in Terris: rằng “phụ nữ đòi hỏi cho mình sự bình đẳng với nam giới trước pháp luật và trong thực tế”; rằng “lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, mọi người đều xác tín rằng những lợi ích của văn hóa phải được và thực sự có thể được phổ biến cho tất cả”; rằng cá nhân và xã hội “khao khát một đời sống tự do xứng hợp với nhân vị”; và rằng “các dân tộc ngày càng nỗ lực để kiến tạo một cộng đồng phổ quát” (GS, 9).
Đáp lại yêu cầu của các nghị phụ Công đồng muốn làm rõ ý nghĩa của “các dấu chỉ của thời đại”, Gaudium et Spes giải thích rằng: “Chính Đức Kitô hiện đang hoạt động trong tâm hồn con người nhờ năng lực của Thần Khí Người… (và) không chỉ khơi dậy khát vọng về đời sau, mà chính bởi đó, Người còn làm sinh động, thanh luyện và củng cố những khát vọng cao quý này, nhờ đó gia đình nhân loại nỗ lực làm cho đời sống trở nên nhân bản hơn và khiến toàn thể trái đất quy phục mục tiêu ấy” (GS, 38).
Phát Triển Hậu Công Đồng
Một bước phát triển mới trong việc sử dụng khái niệm “các dấu chỉ của thời đại” sau Công đồng được tìm thấy trong Tông thư Octogesima Adveniens, do Đức Giáo hoàng Phaolô VI ban hành ngày 14 tháng 5 năm 1971, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Thông điệp Rerum Novarum, đồng thời triển khai giáo huấn xã hội của Giáo Hội “đáp ứng những nhu cầu mới của một thế giới đang đổi thay” (1). Tông thư này đưa ra “lời kêu gọi phổ quát về công bằng hơn nữa” trước những gì Đức Giáo hoàng Phaolô gọi là “những bất bình đẳng trắng trợn” trong sự phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị của các dân tộc. Ngài nói rằng thế giới hôm nay đã xuất hiện “một khát vọng công bằng hơn và một ước muốn về một nền hòa bình được bảo đảm tốt hơn trong sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cá nhân và các dân tộc” (2).
Bởi lẽ việc quan tâm đến những vấn đề xã hội đương đại liên quan đến những hoàn cảnh rất đa dạng, ngài nói rằng thật khó để Huấn quyền của Giáo Hội có thể diễn đạt một thông điệp thống nhất và đưa ra một giải pháp có giá trị phổ quát. Điều này tạo nên nhu cầu cho “các cộng đoàn Kitô hữu phải phân tích cách khách quan tình hình riêng của đất nước mình, soi chiếu nó bằng ánh sáng bất biến của Lời Tin Mừng, và rút ra những nguyên tắc suy tư, chuẩn mực phán đoán, cùng những chỉ dẫn cho hành động từ giáo huấn xã hội của Giáo Hội” (4). Mục đích của kế hoạch mục vụ này, được gọi là “xem-xét-hành động” và hướng đến những hoàn cảnh cụ thể, là để Giáo Hội trở thành tác nhân thay đổi nhằm đạt tới công bằng xã hội.
Khi nói rằng “Kitô hữu trước hết phải canh tân niềm tín thác vào sức mạnh và tính độc đáo của những đòi hỏi mà Tin Mừng đặt ra” (4), Đức Giáo hoàng Phaolô VI dường như gợi ý rằng sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội cần mang tính chiến đấu hơn so với viễn tượng mà Gaudium et Spes đã hình dung. Về sau trong cùng năm ấy, nhấn mạnh này của Đức Giáo hoàng được tiếp nối bởi Thượng Hội đồng Giám mục Rôma năm 1971 qua văn kiện Justice in the World, trong đó tuyên bố rằng hành động vì công bằng và tham gia vào việc biến đổi thế giới phải được coi là một chiều kích cấu thành của việc rao giảng Tin Mừng (6). Các nghị phụ giải thích rằng tình yêu Kitô giáo đối với tha nhân và công bằng không thể tách rời (34). Họ còn thêm rằng “nếu sứ điệp Kitô giáo về tình yêu và công bằng không chứng tỏ hiệu quả qua hành động vì công bằng trong thế giới, thì sẽ khó lòng có được uy tín đối với con người thời nay” (35). Văn kiện của Thượng Hội đồng kết thúc bằng lời kêu gọi Giáo Hội phát triển một phương pháp giáo dục kết hợp “các nguyên tắc Tin Mừng về luân lý cá nhân và xã hội” (59) để “canh tân tâm hồn” (51), nhờ đó Kitô hữu sẽ “trở thành men cần thiết cho sự phát triển toàn diện của con người” (60).
Đáp lại lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Octogesima Adveniens rằng các cộng đoàn Kitô hữu phải phân tích và đáp ứng tình hình riêng của đất nước mình, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã khởi sự soạn thảo một thư mục vụ về giáo huấn xã hội Công giáo và nền kinh tế Hoa Kỳ, với mục tiêu, như các ngài nói, “đo lường nền kinh tế không chỉ bằng những gì nó sản xuất, mà còn bằng cách nó tác động đến đời sống con người và liệu nó có bảo vệ hay làm suy giảm phẩm giá của nhân vị” (1). Thư mục vụ mang tựa đề Economic Justice for All được ban hành năm 1986 sau một tiến trình lâu dài của việc “nghiên cứu cẩn trọng, tham khảo rộng rãi và phân định trong cầu nguyện.”
Theo phương pháp quy nạp “xem – xét – hành động” mà Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã đề nghị như một cách thích ứng để phân định các dấu chỉ của thời đại, thư mục vụ này đã ghi nhận những điểm hội tụ giữa giáo huấn xã hội Công giáo và các giá trị truyền thống của Hoa Kỳ, được minh chứng nơi lời cam kết “tự do và công bằng cho mọi người” trong Lời Thề Trung Thành, và nơi “công việc còn dang dở” của “một cuộc khai sinh mới cho tự do (qua) chính quyền của dân, do dân và vì dân,” như tổng thống Abraham Lincoln đã tuyên bố trong Diễn văn Gettysburg. Các Giám mục nói rằng “Cách cao quý nhất để tưởng nhớ lịch sử của chúng ta là phấn đấu cho một ngày mà tất cả anh chị em cùng được hưởng trọn vẹn Giấc mơ Hoa Kỳ” (9).
Các ngài nhận thấy điều này đòi hỏi phải bảo vệ các quyền con người cho mọi người, những quyền không chỉ là dân sự và chính trị, mà còn là kinh tế (17). Đây sẽ là một “Thí nghiệm Mới của Hoa Kỳ” nhằm thực thi các quyền kinh tế, mở rộng sự chia sẻ quyền lực kinh tế, và làm cho các quyết định kinh tế phải chịu trách nhiệm hơn đối với công ích (21). Vì một cam kết như thế đòi hỏi sự hoán cải cá nhân (23), các Giám mục giải thích rằng mục đích của thư mục vụ này là một tiến trình hoán cải lâu dài của tâm hồn, “không chỉ nghĩ khác đi, mà còn hành động khác đi” (24f). Thư mục vụ được gắn liền với “sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo” nhằm củng cố toàn thể cộng đồng “bằng cách nâng đỡ những ai dễ bị tổn thương nhất,” và đánh giá lối sống, chính sách kinh tế, cũng như các cơ chế xã hội dựa trên tác động của chúng đối với người nghèo (16). Chính theo cách này, các Giám mục nói, chúng ta sẽ nhận ra rằng “đức tin của chúng ta được thử thách bởi chất lượng của công bằng giữa chúng ta,” và rằng “chúng ta có thể đo lường đời sống chung của mình cách tốt nhất bằng việc người nghèo và những người dễ bị tổn thương được đối xử ra sao” (8).
Kết luận
Như chúng ta đã thấy, trong việc sử dụng khái niệm “các dấu chỉ của thời đại” sau Công đồng để hội nhập Giáo huấn xã hội của Giáo Hội với sứ mạng loan báo Tin Mừng, đồng thời nhận diện sự hiện diện của những thế lực trần thế chống lại Tin Mừng, đã xuất hiện một nhấn mạnh đặc biệt vào nhu cầu hoán cải cá nhân. Điều này đã trở thành đặc điểm nổi bật của cả Thượng Hội đồng Giám mục Rôma năm 1971 lẫn Thư Mục Vụ về Kinh tế của Hoa Kỳ năm 1986. Một điều tương tự cũng đã diễn ra trong việc sử dụng khái niệm Kinh Thánh về “tình liên đới nhân loại” sau Công đồng, vốn hiện nay đang đặt nền cho sự phát triển Giáo huấn xã hội Công giáo dưới thời Đức Giáo hoàng Phanxicô.
Đôi điều về tác giả: Cha Robert J. Nogosek, thành viên Dòng Thánh Giá, là một học giả và tác giả nổi tiếng, với sự nghiệp lâu dài trong giảng dạy và nghiên cứu. Ngài là tác giả bài “Nhìn lại Dei Verbum Nhân Dịp Kỷ Niệm Năm Mươi Năm” đăng trên số báo tháng 5/tháng 6 năm 2015.
Tác Giả: Robert Nogosek, CSC
Trích Tạp chí Emmanuel/ Linh Đạo Thánh Thể
Tháng 7/ 8, 2016 – Trang: 224 – 230)
Chuyển ngữ: Lm. Giuse Đinh Đức Huỳnh, SSS
—————-
XIN ĐỌC PHẦN GIỚI THIỆU TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/thanh-the-song-va-loan-bao-tin-mung-giua-long-the-gioi-hom-nay.html
XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 1 TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/duc-gie-su-dung-ve-phia-ai-chung-ta-dung-ve-phia-ai.html
XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 2 TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/ket-noi-giao-huan-xa-hoi-voi-cong-cuoc-loan-bao-tin-mung.html
XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 3 TẠI ĐÂY:
XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 4 TẠI ĐÂY:
XIN ĐỌC CHỦ ĐỀ 5 TẠI ĐÂY: https://www.dongthanhthe.net/chung-nhan-thanh-the-so-angela-marie-salazar-snd.html
