Đức Thánh Cha Phanxicô nói «các Mục tử không thể cảm thấy hài lòng chỉ bằng cách áp dụng các luật luân lý cho những người sống trong những hoàn cảnh “bất qui tắc” » (AL 305). Do hoàn cảnh hoặc có thể bởi các yêu tố giảm khinh, những người sống trong một “hoàn cảnh tội lỗi” về khách quan – mà không phải là lỗi phạm chủ quan hoặc hoàn toàn không phải là lỗi phạm – rất có thể đang sống trong ân sủng của Chúa, họ có thể yêu thương, và cũng có thể tăng trưởng trong đời sống ân sủng và bác ái, trong khi được Hội thánh giúp đỡ. Các Mục tử cần đồng hành và giúp họ phân định để tìm ra những cách khả dĩ để đáp lại tiếng Chúa và để lớn lên qua các giới hạn. Cuộc sống mà lúc nào cũng đòi rạch ròi, chỉ là hoặc trắng hoặc đen, thì có khi sẽ đóng kín con đường của ân sủng và của triển nở, làm nản lòng người ta trên con đường nên thánh (x. Al 305).
Nhưng để tránh có những giải thích lệch lạc Đức Giáo hoàng lưu ý «dù sao Hội thánh cũng không được từ bỏ đề nghị lí tưởng trọn vẹn của hôn nhân, kế hoạch của Thiên Chúa với tất cả tầm vóc cao cả của nó» (AL 307).

Mục tiêu của sự phân định
Đức Giáo hoàng Phanxicô, dựa theo Thượng Hội đồng, đề nghị ít nhất là 7 đặc tính cơ bản của một sự phân định đúng đắn như sau đây:
- Đồng hành và phân định là một lộ trình «nhằm hướng dẫn các tín hữu này ý thức về tình trạng của họ trước mặt Chúa».
- «Cần đào luyện một phán đoán đúng đắn về những gì gây cản trở khiến người tín hữu ấy không thể tham dự đầy đủ hơn vào đời sống của Hội thánh».
- Xem xét các bước thuận lợi có thể xúc tiến và phát triển khả năng tham dự đó.
- «Không bao giờ được phép bỏ qua những yêu sách của sự thật và bác ái theo Tin mừng như Hội thánh đề nghị».
- Yêu cầu phải biết «khiêm tốn, cẩn trọng, yêu mến Hội thánh và giáo huấn của Hội thánh».
- Chân thành tìm kiếm thánh ý Chúa và khao khát đáp lại thánh ý Ngài cách hoàn hảo hơn.
- Hàm ý không bao giờ đặt những ước muốn riêng của mình trên lợi ích chung của Hội thánh

Cách thức phân định: cùng cảm nghĩ với Hội thánh
Thánh I-nhã Loyola có đưa ra những chỉ dẫn giúp phân định trong sách Linh Thao của ngài:
«Tất cả những điều chúng ta phải quyết định lựa chọn nhất thiết phải là những điều, tự chúng không tốt không xấu, hoặc tốt và phù hợp với ý của Mẹ Thánh là Hội thánh phẩm trật, chứ không phải là những điều xấu hay những điều đi ngược với Hội thánh»[1].
Hơn nữa, «Có những điều mà khi việc lựa chọn đã dứt khoát, thì không thể thay đổi, chẳng hạn như đã chịu chức linh mục hay đã kết hôn» (171). Trong trường hợp đó, «một khi đã làm việc lựa chọn không thể đổi thì không được chọn lại nữa vì không thể cởi bỏ được» (172).
Như vậy, nếu bạn đã kết hôn, bạn không cần phải phân định để biết liệu bạn có nên kết hôn lần nữa hay không. Hôn nhân của bạn không phải là vấn đề để đem ra bàn luận tìm thánh ý Chúa nữa. Tốt hơn, hãy xem xét cuộc kết hợp mới hiện tại ngoài hôn nhân của bạn. Cuộc kết hợp “trái qui tắc” đó mới là vết thương và nỗi đau của bạn. Ở đây chúng ta cần tìm biết cách thức để quay về với sự thật của «tình trạng của đương sự trước mặt Chúa» (AL 300). Như vậy mục đích là trở về một lối sống phù hợp với sự thật của dây liên kết hôn phối của bạn. Sự thật của dây hôn phối ấy, không còn là đối tượng của chọn lựa nữa, mà là bối cảnh để thực hiện phân định sao cho thật ý nghĩa.
Để phân định tốt, người ta cần có suy nghĩ và cảm thức cùng chung với Hội thánh (sentire cum ecclesia). Muốn vậy, chúng ta phải khiêm tốn, ngoan ngoãn và chân thành. Thánh I-nhã cũng trong sách Linh thao nói, trong những qui tắc «phải theo để được cảm nghĩ chân chính trong Hội thánh chiến đấu», rằng phải «gạt bỏ mọi phán đoán riêng, ta phải giữ tâm hồn qui hướng và sẵn sàng vâng phục Hiền thê thật của Đức Kitô, Chúa chúng ta, là Hội thánh phẩm trật, Mẹ Thánh chúng ta» (353). Đối với Thánh I-nhã, cảm thức và suy nghĩ cùng với Hội thánh có nghĩa là «ca ngợi mọi giới luật của Hội thánh, sẵn sàng tìm lí lẽ để bênh vực và không bao giờ công kích» (361). Bởi thế, phân định không có nghĩa là biện chính cho những ước muốn có thể thông cảm nhưng vô lí, đúng hơn, phân định là tìm những lí lẽ đáp ứng những đòi hỏi của sự thật và bác ái.
Câu hỏi gợi ý suy tư và thảo luận
- Anh chị, nếu là người đang sống một kết hợp “trái qui tắc”, tức là đã li dị và tái hôn, hiện nay có cảm thấy khao khát muốn sống đức tin qua việc hiệp thông như thế nào đó với Hội thánh của Chúa không? Đó là những ước muốn cụ thể nào? Những điều đó có được thỏa nguyện không, tới mức nào?

2. Anh chị đã gặp gỡ một linh mục, hoặc một Kitô hữu (tu sĩ, giáo dân) đáng tin cậy nào đó khả dĩ đồng hành giúp anh chị phân định tìm thánh ý Chúa cho cuộc sống hiện tại chưa?

3. Các nhóm nhỏ (hội đoàn, Cộng đoàn Kitô nhỏ, bạn hữu, láng giềng Kitô hữu) của giáo xứ, giáo phận chúng ta đã có ý thức và thực hiện mục vụ truyền giáo nơi các gia đình “trái qui tắc” này như thế nào?

4. Là linh mục, và là mục tử của Dân Chúa ở địa phương cũng như trong tinh thần hiệp thông Hội thánh, các cha đã có cùng cảm thức và băn khoăn với Hội thánh, với Đức Giáo hoàng và Thượng Hội đồng Giám mục, về “Đồng hành là mục vụ chính yếu nhất của Hội thánh”?
Nguồn: HĐGMVN















Cha bỏ nó từ lúc nó còn mới đỏ hỏn. Mẹ và ngoại nuôi nó lớn lên trong nghèo khó. Cả nhà rau cháo nuôi nhau, bữa no bữa đói. Nhưng trong nước mắt vẫn có cả nụ cười, trong khổ đau vẫn có phút giây hạnh phúc. Mấy năm sau, ngoại mất. Từ độ ấy, đêm nào nó cũng khóc ngằn ngặt. Mẹ ôm nó vào lòng, nước mắt lăn dài, đặt tay lên ngực trái, nói: “Ngoại vẫn ở đây mà! Ngoại có đi đâu đâu!”. Thế là nó nín.
Mấy năm sau nữa, rồi mẹ nó cũng theo ngoại mà đi… Trong lễ tang, dì nó khóc mãi. Nó lại gần, lắc lắc tay dì, đặt lên ngực trái: “Mẹ vẫn ở đây mà! Mẹ có đi đâu đâu!”. Nó dỗ mãi mà dì chẳng nín, lại còn ôm nó khóc lớn hơn…
Câu chuyện thứ hai
Cha luôn ao ước tặng mẹ một chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà, đeo vòng rất đẹp. Nhưng mỗi khi cha định mua, mẹ lại can. Mẹ bảo: “Để tiền ấy mua sách vở cho tụi nhỏ”. Bao nhiêu năm qua đi, bàn tay mẹ đã sạm đen, chai sạn vì sương gió cuộc đời. Bao nhiêu năm qua đi, chị em tôi cũng trưởng thành cả, rồi lập gia đình, rồi sinh con. Bao nhiêu năm ấy, mẹ vẫn chưa một lần đeo vòng cẩm thạch.
Ngày sinh nhật mẹ, chúng tôi mua tặng bà một chiếc vòng đẹp nhất. Mẹ vui lắm, cứ cười mãi. Bà cất kỹ trong tủ, chỉ thi thoảng mới mang ra ngắm nghía một lát. Tôi hỏi: “Sao mẹ không đeo?”. Mẹ nheo mắt cười: “Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ cần nhìn cũng thấy vui”. Chị em tôi chẳng ai bảo ai, lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau mà rưng rưng lệ.

Câu chuyện thứ ba
Mẹ có 7 người con, chị nghèo nhất. Chồng chị mất sớm, con hãy còn tuổi ăn tuổi chơi. Hai người chỉ còn biết nương tựa vào nhau mà sống. Lễ thượng thọ 70 tuổi của mẹ, cả nhà xúm xít bàn bạc. Người nói nên chọn nhà hàng này, người bảo phải thuê bao nhiêu mâm, người lại lên danh sách khách mời. Thật ồn ã. Thật vui. Mẹ cười tủm tỉm. Lúc ấy, chị lặng lẽ đến bên mẹ, thì thầm vào tai bà: “Mẹ ơi, mẹ thèm ăn món gì để con nấu cho mẹ?”.
Tiệc thượng thọ chưa tan, mẹ đã đòi về sớm. Bà mệt. Ai cũng lắc đầu, tặc lưỡi: “Sao mẹ không ăn gì?”. Tiệc tan, ai về nhà nấy. Mọi người vào tìm mẹ, thấy bà ngồi dưới bếp thủng thẳng ăn cơm với tô canh chua lá me và đĩa bống kho tiêu. Mâm cơm chính tay chị làm.
Câu chuyện thứ tư
Cô giáo cho cả lớp xem bức ảnh chụp một gia đình. Có một cậu bé màu da khác với mọi người. Một bạn nam đứng dậy: “Thưa cô, cậu ấy là con nuôi phải không ạ?”. Cô khẽ mỉm cười: “Tại sao con biết?”. Bạn nam lắc đầu, tiu nghỉu ngồi xuống. Một cô bé bẽn lẽn thưa: “Thưa cô, con biết rất nhiều về con nuôi ạ!”. Có tiếng vặn hỏi ở dưới lớp: “Thế con nuôi là gì?”. Cô bé đứng thẳng dậy, ưỡn ngực, vẻ mặt tươi tỉnh, hai bím tóc lúc lắc, lúc lắc, dõng dạc nói: “Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ chứ không phải từ trong bụng!”.
Câu chuyện thứ năm
Chồng tôi sinh ra đã vào trại trẻ mồ côi. Trừ tiếng khóc lúc lọt lòng, anh không hề khóc thêm một lần nào nữa. Năm 20 tuổi, cuối cùng anh cũng tìm được mẹ của mình. Nhưng hai mẹ con vẫn không được đoàn tụ cùng nhau. Một lần nữa, mẹ anh lại đành chối bỏ con. Anh lẳng lặng ra đi, không rơi một giọt nước mắt. Năm 40 tuổi, một lần anh tình cờ đọc được trên báo tin tìm con của mẹ mình. Anh bật khóc. Tôi hỏi tại sao khóc. Anh nói: “Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc chắn mẹ còn khổ tâm hơn anh”.

***
Tôi còn nhớ lời của một bài hát rất nổi tiếng của Phương Thảo – Ngọc Lễ, hát rằng: “Gia đình gia đình. Ôm ấp những ngày thơ. Cho ta bao kỷ niệm thương mến. Gia đình gia đình. Vương vấn bước chân ta đi. Ấm áp trái tim quay về”. Hai chữ gia đình lắm thiêng liêng ấy mấy ai thấu hiểu? Khi còn bé, ai cũng mong muốn sớm trưởng thành, tự do bay nhảy đến những chân trời lạ bằng đôi cánh của riêng mình. Nhưng những khi bị sóng gió cuộc đời đánh ngã, ta chỉ mong được trở về trong vòng tay yêu thương của mẹ, của cha.
Nhà thơ thời Đường, Hạ Tri Chương, trong một bài thơ nổi tiếng nhất của mình đã viết:
Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nghĩa là: Lúc nhỏ xa nhà, lúc già về thăm. Giọng quê không thay đổi, chỉ có tóc đã điểm bạc.
Đời người như dòng sông cuộn chảy, nước trôi qua cầu không giữ lại được. Trong dòng đời đen bạc, trong loạn thế thị phi, chỉ có gia đình mới là sợi dây níu giữ tình yêu, lòng trắc ẩn của con người.
Văn Nhược
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên
