“CHÚC BẠN HƯỞNG BÌNH AN SÂU THẲM,
NGUỒN BÌNH AN CỦA CHÚA KI-TÔ”
(Tác Giả: Owen F. Cummings)
(Trích Báo Emmanuel: Tháng 1 – Tháng 2, 2017. Trang: 15-22)
(Thầy Phó tế Owen F. Cummings, người thường xuyên đóng góp cho Báo Emmanuel, là trưởng khoa và Giáo sư Thần học tại Chủng viện Mount Angel ở Saint Benedict, Oregon.)
Những lời chúc “Bình an!” tràn ngập vào đầu năm mới. Chúng ta hiểu bình an là gì? Và Bí tích Thánh Thể cho chúng ta biết điều gì có thể mang lại bình an?
“Thánh Thể là Bữa tiệc, là ‘chung sống với nhau’; Thánh Thể làm cho chúng ta trở thành ‘người bạn đồng hành’, những người chia sẻ một bánh, một ổ bánh mì… Thánh Thể là bí tích bình an” (Geoffrey Preston, OP [1])
Một lời chúc phúc cổ xưa của người Gaelic, mà nhạc sĩ John Rutter đã phổ nhạc và nhóm ca sỹ Cam-brid-ge hát, có những lời rất đẹp về bình an:
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của làn sóng đang nhè nhẹ chảy.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của luồng khí hiu hiu thổi đến.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của trái đất lặng yên tĩnh mịch.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của những vì sao đang chiếu sáng.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của màn đêm buông xuống dịu dàng.
Và của Vầng Trăng, các vì sao,
đang tuôn đổ ánh sáng chữa lành.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
của Chúa Kitô, nguồn Ánh sáng.
Chúc bạn hưởng Bình an sâu thẳm,
nguồn Bình an của Chúa Kitô.
Người Cel-tic đã được trao ban khả năng cảm nhận sâu xa về sự hiện diện của Thiên Chúa trong Chúa Ki-tô như hiện diện ở khắp mọi nơi. Sự bình an sâu xa trong bài thánh ca này chính là Chúa Ki-tô. Vì Chúa Ki-tô trao ban chính mình cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, nên, cùng với Geoffrey Preston, chúng ta có thể tuyên xưng một cách chính đáng như trong trích dẫn mở đầu rằng bí tích Thánh Thể thực sự là bí tích bình an.
Khi Đức giám mục chủ tế Thánh Lễ, vào đầu Thánh lễ, ngài mở rộng lời chào đến toàn thể cộng đoàn: “Bình an ở cùng anh chị em.” Đây đúng là lời chào thông thường giữa vị chủ tế và cộng đoàn: “Chúa ở cùng anh chị em.” Chính Chúa là sự bình an. Trong Nghi thức Hiệp Lễ, vị chủ tế sẽ chào bình an, và thầy phó tế mời tất cả mọi người trao dấu hiệu bình an:
“Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em.”
“Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”.
Đây là một cử chỉ rất thân thương trong cử hành Thánh Lễ trước khi tín hữu lên Rước Lễ; đặc biệt cử chỉ này được các gia đình đánh giá cao – trong đó, vợ chồng sống chung với nhau, cha mẹ và con cái với nhau vvv.
“Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”
Cử chỉ này, dấu hiệu của bình an, có ý nghĩa gì? Bình an được trao tặng là gì?
Hình thức của lời chúc bình an này khác nhau trong các truyền thống phụng vụ đa dạng. Ví dụ, trong Phụng vụ của Thánh Ba-sil, công thức chào chúc nhau là “Chúa Ki-tô ở giữa chúng ta!” và câu trả lời là “Người sẽ hằng ở cùng [chúng ta].” (2) Đối với thánh Tô-ma A-qui-nô, mục đích của Bí tích Thánh Thể, mà ngài gọi là ‘rest tantum’, là sự hiệp nhất của Giáo hội. Res tantum là cách viết tắt của thần học kinh viện, có nghĩa đen là “điều duy nhất”/ “thực tại duy nhất”, và trong thần học bí tích, điều này trở thành công hiệu trực tiếp của bí tích, tức là ân sủng. (3) Và vì thế, Geoffrey Preston, một quan chức người Anh theo dòng Đa-minh và thuộc trường phái Tô-ma đã viết rằng: “Sự hiệp nhất của thân thể như vậy đòi hỏi cả hai việc, đó là: [1] việc chia sẻ một ổ bánh để làm cho tất cả chúng ta trở thành một thân thể, và [2] sự hòa giải lẫn nhau được tượng trưng và thực hiện bằng nụ hôn trao bình an.” (4)
Việc tham dự cử hành Thánh Thể mời gọi và thách đố chúng ta cần phải xuất phát từ Thánh Thể mà xem xét hành vi luân lý và hoạt động của chúng ta vì hòa bình trên thế giới.
Rõ ràng là lời chúc bình an không nên trở thành máy móc, một nghi lễ máy móc và cử chỉ trống rỗng. Timothy Radcliffe, cựu Giám Tập của các tu sĩ dòng Đa-Minh, đã sống một năm trong cộng đoàn nhà của dòng Đa-Minh ở Pa-ri, cộng đoàn mà cha Yves Congar và cha Marie-Dominique Chenu, hai Linh mục trong số những linh mục đã đóng góp rất nhiều cho các văn kiện của Công đồng Vatican II, cũng từng sống ở đó. Đây là cách Radcliffe mô tả việc hai cha chào chúc bình an: “Cha Congar đã có cử chỉ nghiêm túc và trang trọng, trong khi cha Chenu lại trìu mến đấm và ôm một người, giật tóc người đó!” (5) Chúng ta không cần phải bắt chước phong cách của cha Congar hay cha Chenu để đảm bảo rằng nụ hôn trao ban bình an là chân thành và phát xuất từ đáy lòng.
Nó không nên trở thành máy móc, vì nụ hôn trao bình an chuẩn bị cho chúng ta hiệp thông sâu xa và liên tục với Chúa Giê-su Ki-tô, và với tất cả mọi người. Xin nhắc lại, Bí tích Thánh Thể là bí tích bình an, và trong những khoảnh khắc quý giá dẫn đến việc tiếp nhận Bí tích Thánh Thể, chúng ta phải sẵn sàng để được chính Chúa Kitô là nguồn bình an trao ban bình an cho chúng ta.
Nhìn vào Kinh Thánh — Cựu Ước
Một số đoạn Kinh thánh hiện ra trong tâm trí chúng ta khi chúng ta tìm kiếm ý nghĩa thần học của bình an. Từ ‘shalom’ trong tiếng Do Thái, được dịch trong Kinh thánh tiếng Anh là “peace” (=bình an), là một từ, theo John L. McKenzie, “có nội dung phong phú đến mức không một từ tiếng Anh nào có thể diễn đạt được”.
Trong tiếng Anh, từ Peace (bình an) có nghĩa là sự kết thúc của chế độ chuyên chế và thù địch, sự kết thúc của sự chia rẽ và bất hòa. Từ “Peace” (bình an) trong tiếng Anh có thể có ý nghĩa tương đương với tự do, hòa hợp và an ninh, nhưng sự phong phú trong Kinh thánh của nó bao gồm các chiều kích khác, ví dụ như sự hoàn thiện và hoàn hảo, những điều kiện không thiếu thứ gì (6). Sự hiểu biết toàn diện hơn về từ ngữ bình an này mang đến sức sống cho lời chúc lành đáng yêu, được đề cập trong Sách Dân Số 6, 24-26:
Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!
Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em!
Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!
Bình an ở đây được hiểu là quà tặng của Chúa. Khi chú ý cẩn thận đến sáu động từ ở đây, bên tiếng Do-thái chú ý đến 6 động từ này nhiều hơn bên tiếng Anh, người ta nhận thấy rằng tất cả chúng đều ở ngôi thứ hai số ít. (7) Về mặt thần học, điều này nhằm nhấn mạnh thực tế rằng phúc lành của Chúa là dành cho tôi và cho bạn, cho cá nhân, nhưng trên thực tế, chúng ta cũng biết rằng không có tôi nếu không có bạn, và vì vậy phúc lành mở rộng ra bên ngoài để trở thành một phúc lành của tập thể. Phúc lành này của Thiên Chúa, kết thúc bằng món quà bình an, là “khi một người sở hữu bình an, người đó ở trong sự hiệp thông hoàn hảo và chắc chắn với Thiên Chúa”. (8)
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a có nhiều điều để nói về bình an, cảnh báo rằng các ngôn sứ giả đã tiên đoán về bình an khi không có bình an: “‘Bình an vô sự’, để xoa dịu thương tích của dân Ta, trong khi chẳng có bình an chi cả” (Giê-rê-mi 6, 14). Đối với ngôn sứ Giê-rê-mi-a, nơi nào không có công lý và sự công chính, không có mối quan hệ đúng đắn với mọi người trong toàn xã hội, thì không thể có bình an.
Trong Sách I-sa-i-a Đệ Nhị trình bày cho thấy Chúa nói với dân chúng bằng những lời sau đây: “Giả như ngươi lưu ý đến mệnh lệnh của Ta, thì sự bình an của ngươi sẽ chan chứa như dòng sông, sự công chính của ngươi sẽ dạt dào như sóng biển” (Is 48, 18). Giống như Giê-rê-mi-a trước đó, vị ngôn sứ muốn chúng ta hiểu rằng bình an chỉ là một sự thêu dệt/kết cấu của trí tưởng tượng khi nó không thấm nhuần và chi phối mọi tầng lớp của xã hội. Có lẽ đó là lý do tại sao, như trong I-sa-i-a Đệ Nhất cho thấy rằng, bình an hoàn hảo sẽ chỉ đến với sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a:
“Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta; Người gánh vác quyền bính trên vai; danh hiệu của Người là Cố Vấn Kỳ Diệu, Thần Linh dũng mãnh, Người Cha muôn thưở, Thủ lãnh hòa bình.” (Is 9, 5)
Trong bối cảnh lịch sử của thời ngôn sứ I-sa-i-a, đứa trẻ được nói đến ở đây bằng những từ ngữ đẹp đẽ như thế có lẽ là con của vua Đa-vit, rất có thể là vua Hê-zê-ki-a. Ngôn sứ I-sa-i-a đang tìm kiếm vua Hê-zê-ki-a như một vị vua sẽ đáp ứng một số niềm hy vọng sâu xa của dân chúng. “Vị ngôn sứ đang tìm kiếm một vị vua cứu thế sẽ đảo ngược sự bất công và tham nhũng của các vị vua trong quá khứ. Trên hết, ông đang tìm kiếm một vị vua sẽ là công cụ của Thiên Chúa trong việc thực hiện ý muốn của mình cho vương quốc mình. Chưa bao giờ có lời tiên tri nào được ứng nghiệm thỏa mãn hơn lời tiên tri của ngôn sứ I-sa-i-a nơi Chúa Giê-su.” (9) Chúa Giê-su là Đấng “thực hiện trọn vẹn” niềm hy vọng của ngôn sứ I-sa-i-a.
Nhìn vào Kinh Thánh—Tân Ước
Tiến tới Tân Ước, các mối phúc trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho chúng ta biết: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (5, 9). Trở thành người xây dựng hòa bình là được “phúc”, và được phúc là sống như Thiên Chúa sống và là con cái của Thiên Chúa trong Người Con duy nhất là Chúa Giê-su. (10) Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Chúa Giê-su là Em-ma-nu-en, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, được hứa và đặt tên qua Đức Ma-ri-a (1, 23) và được hứa sẽ luôn ở cùng chúng ta (27, 20). Nhân cách của Đấng Em-ma-nu-en được mô tả cho chúng ta trong các mối phúc (5,3-10), và “những người xây dựng hòa bình” ở đó vì Đấng Em-ma-nu-en là bình an, “Hoàng tử của bình an”.
Tin Mừng theo thánh Gio-an cũng cho thấy thực tại bình an trong sự hiện diện của Chúa Giê-su. Khi nỗi buồn ập đến với các tông đồ sắp phải xa Thầy, Chúa Giêsu trấn an họ, “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Một nhà bình luận đã nhận định thật hữu ích: “Sự bình an mà Chúa Giê-su để lại cho các tông đồ trải rộng ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa vào sâu trong trái tim con người”, đặc biệt là khi người ta nhớ lại rằng chương 14 này bắt đầu bằng những từ, “Anh em đừng xao xuyến” (14, 1). Khi người ta nghĩ về điều đó, thì ân sủng và tình yêu – một sự bình an được trải rộng – chính là “Sự bình an sâu xa của Chúa Ki-tô dành cho anh em”, thực sự không gì khác ngoài chính Chúa Giêsu, hiện diện qua Đấng Bảo Trợ. Sự bình an mà Chúa Giê-su để lại cho các tông đồ, thật đơn giản, là chính Ngài.
Tiếp tục với Tin Mừng theo thánh Gio-an, vào ngày Phục sinh đầu tiên, Chúa Giê-su phục sinh đã nói với các môn đệ về sự bình an. Trên thực tế, “bình an” là “lời đầu tiên của Chúa Giê-su phục sinh với các môn đệ là những người đã phá vỡ sự bình an với Ngài bằng sự bất trung của họ.” (11) Đây là đoạn Tin Mừng [liên quan đến lời chúc bình an]: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: ‘Bình an cho anh em’” (Ga 20, 19). Lời chào “Bình an cho anh em” được lặp lại nữa ở câu 21 và 26, làm cho sự bình an được nhấn mạnh rất đặc biệt trong chương này.
Việc trao tặng và chấp nhận món quà của Chúa Giêsu – sự bình an đến từ nhau và cho nhau đòi hỏi chúng ta phải hướng vào nội tâm và hướng đến tha nhân
Toàn bộ chương, Gio-an 20, thổi hồn vào cuộc gặp gỡ tuyệt đẹp của các môn đệ với Chúa Giê-su phục sinh. Tuy nhiên, nó không diễn ra trôi chảy hoàn toàn. Hãy Lưu ý đến bản chất khó nghe của cụm từ “vì sợ người Do Thái.” Có vẻ như theo một cách khá thô lỗ, điều này làm gián đoạn dòng chảy của câu chuyện, tức là bản chất chiêm nghiệm của cuộc gặp gỡ sau khi phục sinh này. Tại sao lại chèn vào câu chuyện này cụm từ “vì sợ người Do Thái”?
Timothy Radcliffe đưa ra một số bình luận thật hữu ích về cụm từ này, những bình luận không chỉ mang tính chú giải, mà theo cách riêng của chúng, cũng rất riêng tư. “Các môn đệ bị nhốt trong không gian nhỏ bé đó, ‘vì sợ người Do Thái.’ Nhưng bản thân họ là người Do Thái. Thường thì điều chúng ta không thích hoặc sợ hoặc không thể tha thứ ở người khác thì lại là một khía cạnh nào đó của chính mình mà mình không dám đối mặt. Những người thể hiện sự kỳ thị người đồng tính một cách nồng nhiệt nhất thường là những người sợ khuynh hướng đồng tính trong chính bản thân họ. Thật dễ dàng hơn để ghét bỏ nơi người khác một số yếu tố thuộc tính cách của chính tôi mà tôi không dám xem xét quá kỹ lưỡng… Vì vậy, việc trao nụ hôn bình an cho người khác đòi hỏi tôi, một cách yêu thương, phải nhìn vào bản thân mình trong tất cả sự phức tạp của mình, với những căng thẳng về đạo đức và trí tuệ theo những cách khác nhau, với những ham muốn làm tôi khó xử, và với những khát vọng mà tôi chưa bao giờ được phép thực hiện. Tôi phải sống bình an với những sự phức tạp này, với những căng thẳng chưa được giải quyết, và với những mơ hồ này, vì chúng khiến tôi năng động và thăng tiến hơn, tìm hiểu và gặp những điều khó hiểu, và rồi gõ cửa cầu xin ơn trên giúp tôi hiểu biết.” (13)
Không còn nghi ngờ gì nữa, thánh sử Gio-an, có lẽ đã viết vào thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, trong những lời “vì sợ người Do-thái”, Ngài đã phản ánh một chút về sự đối kháng giữa cộng đoàn Ki-tô hữu mới thành lập và Hội đường Do-thái “phía đối lập” như đã xảy ra. Sự chia cắt giữa người Do Thái và Ki-tô giáo có thể vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn, nhưng sự thù địch và phân cực giữa hai cộng đồng chỉ đơn giản là một vấn đề thực tế. Hãy nghĩ đến những cách [bộc lộ khác nhau], trong đó Tin Mừng theo thánh Mát-thêu phản ánh cùng một sự đối kháng [giữa cộng đoàn Ki-tô hữu] đối với người Do Thái.
Tuy nhiên, thừa nhận những lời bình luận theo ngữ cảnh thật hữu ích này, đoạn văn “vì sợ người Do Thái” vẫn được đặt ở đó, và Radcliffe giúp chúng ta thấy được một phần bản thân mình trong đó. Chúng ta cần xem xét các yếu tố bất hòa trong đời sống Ki-tô hữu của mình. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng cả việc trao tặng và chấp nhận món quà của Chúa Giê-su – [tức là] hòa bình đến từ nhau và cho nhau đòi hỏi chúng ta phải hướng nội và hướng tha. Chúng ta đi vào bên trong, vào căn tính của chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng là bình an của chúng ta, để chúng ta có thể ra ngoài để trao ban bình an đó, và thực sự là bình an cho người khác.
Việc tham dự cử hành Thánh Thể mời gọi và thách đố chúng ta cần phải xuất phát từ Thánh Thể mà xem xét hành vi luân lý và hoạt động của chúng ta vì hòa bình trên thế giới.
Nếu chúng ta nghiêm túc xem xét những gì thánh Phao-lô nói đến trong thư gửi giáo đoàn Ga-lat (2, 20): “Tôi sống, nhưng Không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi,” thì đơn giản là, Chúa Giê-su là nơi bình an, nơi bình an mà chúng ta gặp gỡ như thân thể của Ngài, và dấu hiệu của bình an trở thành dấu hiệu của căn tính chúng ta trong Ngài, mà chúng ta trao cho nhau. Những lời của thánh Phao-lô trong thư gởi giáo đoàn Cô-lô-sê (3, 15) giờ đây mang một ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, “Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến để hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân”.
Mệnh đề đầu tiên, “sự bình an của Đức Ki-tô,” chắc chắn có thể được hiểu là “sự bình an là Đức Ki-tô,” phù hợp với suy nghĩ thần học của chúng ta ở đây. Mệnh đề cuối cùng, “và hãy hết dạ tri ân,” được dịch chính xác, nhưng có một chú thích khác mà chúng ta có thể thêm vào. Các từ tiếng Hy Lạp mang ý nghĩa “hãy biết ơn” thì trong phiên âm tiếng Anh là eucharistoi ginesthe, cho chúng ta bản dịch rất sát nghĩa là “be Eucharists,”/ (= là bí tích Thánh Thể) hoặc thậm chí sát nghĩa hơn là “be eucharistic men,”/ (là những con người Thánh Thể), vì eucharistoi là hình thức giống đực của tính từ. Tất nhiên, thánh Phao-lô không có ý nói rằng người Cô-lô-sê (hay chúng ta) thực sự là Bí tích Thánh Thể, nhưng có lẽ lớp ý nghĩa bí tích đó có thể không quá xa lạ với suy nghĩ của ngài. Nếu chúng ta lấy từ trích dẫn mở đầu của nhà thần học Geoffrey Preston khái niệm rằng “Bí tích Thánh Thể là bí tích của hòa bình”, thì chính cuộc sống của chúng ta được hướng đến Bí tích Thánh Thể và chúng ta trở nên Thánh Thể. Ít nhất, cách suy nghĩ này vừa mời gọi vừa thách đố chúng ta, như xuất phát từ Bí tích Thánh Thể, xem xét hành vi luân lý và hoạt động của chúng ta vì hòa bình trên thế giới này.
Có những đoạn khác trong thư của thánh Phao-lô mà chúng ta có thể tham khảo để tìm hiểu về bình an theo thần học Thánh Thể và/hoặc theo Kitô học, ví dụ, Rô-ma 15,33; 16,20; 2 Cô-rin-tô 13,11; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5,23. Mỗi đoạn đều đáng để chúng ta xem xét và chú tâm, nhưng có một câu trong Thư gửi tín hữu Ê-phê-sô mà tôi muốn lưu ý đến, đó là Ê-phê-sô 2, 14-17: “Vì (Đức Ki-tô) là sự bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét… Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người…” Chúa Kitô là sự bình an của chúng ta khi liên kết chúng ta chặt chẽ hơn với nhau trong và qua Bí tích Thánh Thể, để sự thù địch trở nên xa lạ trong thân thể thánh thiện của Người, và sự thù ghét trở thành một hình thức tự ghét bản thân mình tàn ác nhất.
Một số lời của cố học giả Tân Ước Jerome MurphyO’Connor, OP, rất hữu ích trong vấn đề này: “Chúa Kitô là con người mới, là cộng đồng. … Trong cụ thể, bản thể của Thân thể Con người Mới được cấu thành bởi một loạt các đức tính xã hội, vốn chỉ là những khía cạnh của tình yêu. Đó là sức mạnh sáng tạo gắn kết các thành viên có nhiều tài năng khác nhau thành một sự hiệp nhất hoàn chỉnh.” (14) Tất nhiên, không có gì ở đây nói rõ ràng về Bí tích Thánh Thể, nhưng vì Bí tích Thánh Thể tạo nên Giáo hội, nên bối cảnh Thánh Thể của đoạn văn của Murphy-O’Connor có thể được coi là điều hiển nhiên.
Kết luận
Ý nghĩa Thánh Thể và ý nghĩa thần học của khái niệm ‘bình an’ xuất hiện tất cả những sức mạnh của nó khi chúng ta trao dấu hiệu bình an cho nhau trong Thánh Lễ. Chúng ta phải bỏ lại sau lưng tất cả những gì không phải là bình an, và tất cả những gì không phải là của Chúa Kitô, bởi vì Chúa Kitô là sự bình an.
Bài suy tư của chúng ta mở đầu bằng một lời cầu nguyện của người Cel-tic. Chúng ta cũng hãy kết thúc bằng một số lời của ông John Macquarrie, một nhà thần học Cel-tic vĩ đại của thế kỷ XX và hơn thế nữa là một người có thể thuyết giảng bằng tiếng Gaelic; những lời đó trích từ cuốn sách ‘The Concept of Peace’ (Khái niệm Hòa bình) của ông, như sau: “Người theo đạo Thiên chúa tin rằng cầu nguyện cho hòa bình không chỉ là suy ngẫm về ý nghĩa của hòa bình với mục đích trở thành người phục vụ tốt hơn cho tiến trình hòa bình. Đó là đưa vào hoàn cảnh của con người chính sức mạnh hòa bình của Chúa, hay nói cách khác, là mở hoàn cảnh của con người ra với sức mạnh đó. Không nghi ngờ gì nữa, tại bất kỳ thời điểm nào, chỉ có một nhóm nhỏ nhân loại đang tích cực cầu nguyện cho hòa bình theo cách này. Nhưng không ai có thể nói điều gì đang được thực hiện thông qua những lỗ hổng mà chúng tạo ra trong hoàn cảnh của con người”. (15)
(Chuyển ngữ: Lm. Giu-se Đinh Đức Huỳnh, SSS)
Nguồn: dongthanhthe.net
- Geoffrey Preston, OP, Faces of the Church (Grand Rapids: Eerdmans, 1997), 196.
- Ibid., 198.
- See Kevin W. Irwin, The Sacraments: Historical Foundations and Liturgical Theology (New York and Mahwah: Paulist Press, 2016), 106.
- Geoffrey Preston, op. cit., 198.
- Timothy Radcliffe, OP, Why Go to Church? The Drama of the Eucharist (New York and London: Continuum, 2008), 162.
- John L. McKenzie, Dictionary of the Bible (Milwaukee: Bruce, 1966), 651.
- William T. Miller, SJ, A Compact Study of Numbers (Eugene: Wipf and Stock, 2013), 29.
- John L. McKenzie, op. cit., 651.
- Bruce Vawter, CM, The Conscience of Israel (New York: Sheed and Ward, 1961), 186.
- Xavier Leon-Dufour, SJ, “Peace,” in Xavier Leon-Dufour, SJ, ed., Dictionary of Biblical Theology (New York: Desclee Company, 1967), 367.
- Geoffrey Preston, OP, op. cit., 197.
- Timothy Radcliffe, OP, op. cit., 171-172.
- See, for example, Douglas R. A. Hare, The Theme of Jewish Persecution of Christians in the Gospel according to Saint Matthew (Cambridge: Cambridge University Press, 1967), and many ongoing studies that reflect this basic position articulated by Hare.
- Jerome Murphy-O’Connor, OP, Becoming Human Together: The Pastoral Anthropology of Saint Paul, 3rd ed. (Atlanta: Society of Biblical Literature, 2009), 185.
- John Macquarrie, The Concept of Peace (New York: Harper & Row, 1973), 81.
