Hãy thử cầu nguyện và thinh lặng. Một nửa giờ một ngày. Nếu có thì giờ, hai lần một ngày. Sẽ rất tốt cho sức khỏe của bạn. Và trong nền văn hóa như muốn nuốt chửng đời sống nội tâm thì đây cũng là một hành vi chính trị.

H.Chúa Giêsu cầu nguyện ở đâu và khi nào ?
T.Chúa Giêsu thường âm thầm cầu nguyện nơi thanh vắng. Ngài cầu nguyện thường xuyên, cả sớm mai và chiều tối, có khi Ngài cầu nguyện suốt đêm. Cách riêng, Ngài cầu nguyện trước khi làm những việc quan trọng, nhất là trong cuộc thương khó.
Thần học gia Jan Walgrave có một nhận xét, thời đại chúng ta như ngầm chống đời sống nội tâm. Đó là một cách nói nhẹ nhàng để ám chỉ trong nền văn hóa chúng ta, giải trí thì phổ biến hơn là cầu nguyện và cô tịch. Không có bao nhiêu chiêm nghiệm trong nền văn hóa và cuộc sống của chúng ta.
H. Tại sao Chúa Giêsu năng cầu nguyện ?
T. Vì Ngài muốn luôn sống thân mật với Chúa Cha, lắng nghe và thực hiện ý muốn của Chúa Cha.
Tại sao vậy? Qua chọn lựa hay trên nguyên tắc, chúng ta không chống lại cô tịch, đời sống nội tâm và cầu nguyện. Và theo tôi nghĩ, chúng ta cũng không tệ hơn, ngoại đạo hơn hay ngại sống nội tâm hơn các người đi trước chúng ta. Cái chúng ta khác với người đi trước không hẳn vì chúng ta bận rộn hay hấp tấp hơn mà chúng ta không suy nghĩ theo cách chiêm nghiệm vì chúng ta không bao giờ thật sự để tâm đến nó.
H. Chúa Giêsu cầu nguyện với tâm tình nào ?
T. Chúa Giêsu cầu nguyện với tâm tình con thảo, yêu mến và vâng phục, luôn một niềm tin tưởng tuyệt đối rằng mình được nhậm lời.
Có lẽ ẩn dụ thích hợp nhất để mô tả cuộc sống bận rộn xao nhãng của chúng ta là ẩn dụ trạm rửa xe tự động. Khi bạn lái xe vào trạm, họ yêu cầu bạn tắt máy, bỏ tay lái, chân không đạp phanh. Hệ thống rửa sẽ tự động kéo xe đi.
H. Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện thế nào ?
T. Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện với ý hướng ngay lành, với một niềm tin mạnh mẽ bền vững, và với sự mạnh dạn của người con.
Đối với đa số chúng ta, một ngày bình thường trôi đi như vậy: nó cuốn chúng ta đi. Đồng hồ báo thức và rađiô là một, trước khi chuông reo báo thức thì đài đã phát thanh. Như thế chúng ta đã bị kích động ngay khi chưa tỉnh ngủ.
Chúng ta thức dậy theo tiếng báo hiệu radiô rồi đi tắm, thay áo, chuẩn bị đi làm, tất tất đều được kích động bằng tin tức, âm nhạc, bình luận. Bữa ăn sáng, con đường đến sở cũng theo nhịp này. Trên xe, chúng ta nghe radiô, tham gia vào các cuộc đàm luận, lên chương trình làm việc trong ngày, luôn luôn trong trạng thái kích động và bận rộn. Chúng ta phá đi một ngày làm việc, cứ phải bận rộn, đầu óc lúc nào cũng tập trung vào công việc. Về nhà thì truyền hình, nói chuyện, các sinh hoạt, các lo âu đủ chuyện. Đến giờ ngủ; có thể chúng ta đọc một chút, tiếp tục xem truyền hình một chút. Cuối cùng mới ngủ được.
Với tất cả những chuyện này, đến lúc nào chúng ta mới có thì giờ suy nghĩ, chiêm nghiệm, cầu nguyện, tự vấn, nhận thức, đơn giản chỉ để thưởng thức, thư giãn, biết ơn cuộc sống, biết ơn tình yêu, sức khỏe, Thiên Chúa? Chúng ta đã bị sinh hoạt trong ngày cuốn đi.
Tôi nghĩ câu chuyện chung quanh tách cà-phê của bạn cũng giống tôi. Nơi tôi ở, trong những giây phút chiêm nghiệm, chúng tôi cũng ngồi nói chuyện với nhau: “Nhịp sống thật khủng khiếp. Phải làm một cái gì. Chúng ta lái xe quá nhanh, sống hấp tấp, ăn quá nhanh, làm việc quá sức, quá lo lắng, quá bận rộn, chúng ta không còn thời gian để thưởng thức cuộc sống!” Nhưng chẳng có gì thay đổi.
Như văn hào Mark Twain nói: “Nó giống như thời tiết – ai cũng than phiền nhưng không ai làm gì để thay đổi.”
Triết gia Socrate nhận xét: “Sống không suy nghĩ thì không đáng sống.” Tôi nghĩ thời đại chúng ta sẽ trả lời ông: “Nếu chưa sống thì có chất liệu gì để suy nghĩ.” Càng ngày chúng ta càng ít suy nghĩ về cuộc sống của mình. Hệ quả thì đâu cũng giống nhau. Chúng ta nhận thấy nó trong cách chúng ta ăn, lái xe.
Tôi không muốn xét đoán nhưng tôi nghĩ đa số chúng ta ít cầu nguyện, nhất là cầu nguyện riêng. Tôi nghĩ cuộc sống cầu nguyện trung bình của một người ở thời buổi này thu gọn trong lời cầu nguyện vắn tắt buổi sáng, vài kinh đọc hấp tấp đãng trí lúc ăn và vài câu trước khi ngủ. Đã là quý nhưng ít.
Nhưng thiếu khả năng chiêm nghiệm không phải chỉ thể hiện qua các câu kinh nghèo nàn. Nó chỉ là dấu hiệu của một thiếu sót sâu đậm. Lối sống vội vàng và khuynh hướng xao nhãng làm cho chúng ta không nếm được cô tịch. Khi cuộc sống cô tịch bị rút ngắn thì đời sống chúng ta dường như ít có giá trị và ít có ý nghĩa.
H. Tại sao chúng ta phải năng cầu nguyện ?
T. Vì có cầu nguyện ta mới nhận biết và vâng theo ý Chúa để ngày càng kết hợp với Chúa Kitô mà lớn lên trong tình con thảo.
Thế mà đa số chúng ta đều thấy mình rất cần cô tịch. Áp lực càng tăng thì mệt mỏi tăng theo, chúng ta cho rằng do kiệt sức nghề nghiệp và bắt đầu mơ cô tịch. Chúng ta tưởng tượng cô tịch là nơi thanh thản yên lặng: dạo chơi bên bờ hồ, ngắm mặt trời lặn, buông mình trong chiếc ghế đu bên lò sưởi, miệng phì phèo ống điếu. Nhưng chúng ta lại làm cho cô tịch thành một sinh hoạt: nó bắt chúng ta phải làm một cái gì đó. Chúng ta xem cô tịch như một công việc, như đi tắm. Đứng dưới vòi sen, để nước dội xuống, kỳ cọ… rồi trở lại đời sống bình thường.
Nhưng cô tịch là một hình thức của nhận thức. Nó là cách thức hiện hữu và tỉnh ngộ trong suốt cuộc đời. Một chiều kích suy tư ứng dụng trong cuộc sống thường ngày, gợi lên cảm nhận biết ơn, cảm kích, thanh thản, thỏa nguyện và cầu nguyện. Nó là ý thức, trong cuộc sống thường nhật, rằng cuộc sống thường nhật là quý giá, mang tính thiêng liêng và trọn đủ.
Làm cách nào để phát triển một chiều kích như thế trong cuộc sống chúng ta? Làm cách nào để nuôi dưỡng cô tịch? Làm cách nào chủ động trong cuộc sống để không bị nó cuốn hút? Làm cách nào đặt nền móng cho cầu nguyện trong cuộc sống chúng ta? Làm cách nào để biết ơn và cảm kích cuộc sống thường ngày?
H. Ngòai Chúa Giêsu, có ai khác là gương mẫu đặc biệt cho ta trong việc cầu nguyện ?
T. Có Đức Maria. Ngài đã cầu nguyện trong lòng tin, trong tâm tình quảng đại hiến thân và cộng tác đắc lực vào chương trình tình yêu của Thiên Chúa.
Khi được hỏi đâu là toa thuốc đơn giản để săn sóc cho sức khỏe tinh thần khi phải sống trong vội vã, Eric Fromm đã trả lời:
“Một nửa giờ thinh lặng một ngày, nếu có thì giờ thì làm hai lần. Sẽ rất tốt cho sức khỏe của bạn.”
Câu trả lời của Fromm không có tính cách tôn giáo. Ông không phải là Thomas Merton. Nhưng toa thuốc của ông mang hơi hướm Merton. Tôi không nghĩ ra toa thuốc thiêng liêng nào hay hơn toa này để chữa trị căn bệnh thiếu hướng nội của chúng ta.
Hãy thử cầu nguyện và thinh lặng. Một nửa giờ một ngày. Nếu có thì giờ, hai lần một ngày. Sẽ rất tốt cho sức khỏe của bạn. Và trong nền văn hóa như muốn nuốt chửng đời sống nội tâm thì đây cũng là một hành vi chính trị.
Ronald Rolheiser
Nguyễn Kim An dịch
Nguồn: Gp Long Xuyên

CẦU NGUYỆN ĐỂ TÌM KIẾM SỰ HƯỚNG DẪN CỦA CHÚA
Trong quyển tự truyện Nỗi cô đơn triền miên (The Long Loneliness), Dorothy Day kể một giai đoạn khó khăn trong đời bà. Lúc đó bà vừa trở lại đạo Ki-tô sau một thời gian dài sống vô thần, rồi bà sinh đứa con gái. Trong thời gian sống vô thần, bà yêu một người đàn ông, là cha của đứa con gái; bà và người đàn ông này – hai người vô thần đã bị vỡ mộng với xã hội chính thống – đã thỏa thuận với nhau sẽ không bao giờ làm đám cưới, như một lời tuyên bố chống lại những quy ước truyền thống của xã hội.

Nhưng việc bà trở lại đạo đã làm cho cuộc sống của bà bị đảo lộn. Người cha của đứa con ra tối hậu thư; nếu bà rửa tội cho con thì ông chấm dứt mối quan hệ với bà. Dorothy chọn làm lễ rửa tội cho con, nhưng đã trả giá rất đắt. Bà yêu sâu đậm người đàn ông này và hết sức đau đớn khi chia tay. Hơn nữa, vì chuyện trở lại đạo, bà bị cắt đứt khỏi tất cả người quen biết cũ trước đây, làm cho bà đau còn hơn mất bạn tâm giao. Nó làm cho bà mất việc, không nguồn hỗ trợ nuôi con, và không còn mục đích trước đây trong đời. Bà cảm thấy cô đơn và lạc lối một cách đau đớn.

Việc này làm cho bà phải quỳ gối xuống, theo đúng nghĩa đen. Một ngày nọ, bà đi tàu lửa từ New York đến thủ đô Washington và dành cả ngày hôm đó cầu nguyện ở Thánh Đường Quốc Gia Đức Mẹ Vô Nhiễm. Và, như bà chia sẻ trong quyển tự truyện, lời cầu nguyện của bà hôm đó trực tiếp không e ngại, khiêm tốn và rõ ràng. Thiết yếu, bà lặp đi lặp lại với Chúa, rằng bà lạc lối, bà cần một hướng đi rõ ràng cho cuộc đời, bà cần sự hướng dẫn đó ngay bây giờ, không phải ở một tương lai nào xa xôi cả. Và, như Chúa Giê-su trong Vườn Giếtsêmani, bà lặp đi lặp lại lời cầu nguyện nhiều lần.
Tối hôm đó, bà đi tàu về nhà, khi bước lên căn hộ của mình, bà thấy ông Peter Maurin đang ngồi đợi trên bậc cấp. Ông mời bà khởi công làm việc cho Catholic Worker. Phần còn lại của câu chuyện đã đi vào lịch sử.

Những lời cầu nguyện của chúng ta không phải bao giờ cũng được đáp lại nhanh chóng và trực tiếp như vậy, nhưng luôn luôn được đáp lại, như Chúa Giê-su đã đoan chắc với chúng ta, bởi vì Chúa không từ chối Thần Khí cho những ai xin nhận. Nếu chúng ta cầu nguyện xin hướng dẫn và hỗ trợ, chúng ta sẽ nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ.
Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy nhiều ví dụ nổi bật về những người, như Dorothy Day, tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa trong cầu nguyện, đặc biệt khi họ cô độc và sợ hãi lúc đứng trước chấn động lớn nào đó hay sắp phải chịu đau khổ trong đời. Ví dụ, chúng ta thấy nơi các nhà Tiên tri, khi lạc lối trong sa mạc và đứng trước cuộc nổi loạn do chính dân của mình, họ đã lên núi Horeb để xin lời khuyên của Chúa. Và chúng ta thấy điều đó khi Chúa Giê-su cũng lên núi Horeb để cầu nguyện, và cầu nguyện suốt đêm trong nhiều đêm, gắng gỗ để tìm được cả sự hướng dẫn lẫn lòng can đảm mà Người cần để thực hiện sứ mạng của mình.

Nhìn vào lời cầu nguyện của các nhà Tiên tri, Chúa Giê-su, Dorothy Day và vô số những người khác đã cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chúng ta thấy lời cầu nguyện của họ, đặc biệt khi họ cảm thấy cô độc và tuyệt vọng nhất, có ba đặc điểm: chân thật, trực tiếp và khiêm nhường. Họ nâng trái tim và trí óc của mình lên Chúa, không phải là trái tim hay trí óc của ai khác. Không hề có chuyện làm ra vẻ, biện minh, hay giấu diếm điểm yếu. Họ để tuôn trào nỗi sợ hãi, sự bất tương xứng, nỗi thèm muốn, rối loạn của họ, như những đứa trẻ con vẫn làm khi cầu xin bàn tay của ai đó giúp đỡ.
Có một điều tương đương thú vị trong một số câu chuyện thần tiên kinh điển của chúng ta, trong đó nhân vật Chúa thường xuất hiện dưới dạng thiên thần, nàng tiên, con cáo hay con ngựa. Và luôn luôn những ai tiếp cận nhân-vật-Chúa đó với lòng tự tin thái quá, kiêu căng, hay giả tạo, thì họ không nhận được lời khuyên hay phép lạ nào. Ngược lại, ai tiếp cận những nhân-vật-Chúa đó với lòng khiêm nhường và công nhận họ lạc đường trong khi đi tìm kiếm thì họ sẽ được cho lời khuyên và phép lạ. Có một bài học cầu nguyện quan trọng trong đó.

Tất cả chúng ta, vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, đều có lúc cảm thấy cô đơn, lạc lối, rối loạn, và bị quyến dụ hướng về con đường chết. Những lúc đó, chúng ta cần tới bên Chúa với lời cầu nguyện chân thật không e ngại, trực tiếp và khiêm tốn. Giống như Dorothy Day, chúng ta cần tỏ bày ra và dâng nỗi sợ hãi và bất an có thực của chúng ta lên Chúa, cầu nguyện, lặp đi lặp lại nhiều lần: “Con sợ! Con cảm thấy quá cô đơn và cô lập trong chuyện này! Con không muốn làm điều này! Con hoàn toàn không thích hợp! Con không còn sức lực nào cả! Lòng con tràn đầy giận dữ! Con cay đắng về bao nhiêu là chuyện! Con căm ghét một số chỗ mà luân lý Ki-tô của con đã đưa con tới! Con bị quyến dụ theo những cách mà con quá hổ thẹn không dám nói ra! Con cần được hỗ trợ nhiều hơn mức Người vẫn hỗ trợ cho con! Xin gửi đến cho con một ai đó hay gửi cho con điều gì đó! Nếu Người muốn con tiếp tục con đường này thì Người phải giúp con nhiều hơn nữa! Con cần điều đó ngay bây giờ!”
Và rồi chúng ta cần phải chờ đợi, một cách kiên nhẫn, hướng vọng về. Có lẽ chẳng ông Peter Maurin nào sẽ xuất hiện trước bậc cửa nhà chúng ta vào đêm đó, nhưng, khi sự bất-lực-hoang-mạc đã phát huy tác dụng thì một thiên thần sẽ đến truyền sức mạnh cho chúng ta.
Ron Rolheiser

(Hình Vương cung thánh đường Thánh Phêrô)
