BẢY LOẠI ĐỨC TIN
(The Seven Types of Faith)
Tác giả: Victor M. Parachin –
(Trích Tạp chí Emmanuel/ Linh Đạo Thánh Thể –
Tháng 1/ Tháng 2, Năm 2018 – Trang: 33 – 37)
| Victor M. Parachin, một thừa tác viên, đã dành nhiều công trình viết lách cho lãnh vực linh đạo. Ngài là tác giả của hơn mười tác phẩm và là cộng tác viên thường xuyên của Tạp chí Emmanuel. |
| Đời sống của bạn đang làm chứng cho dạng đức tin nào? |
[Đức Tin Kiên Trì]
Trong suốt 16 năm dài, ông Mel Fisher, một thợ săn kho báu ở Florida Keys, đã tìm kiếm con tàu Tây Ban Nha Nuestra Señora de Atocha bị chìm năm 1622. Con tàu chở đầy hàng hóa quý giá (đồng, bạc, vàng, đá quý và trang sức) từ Cartagena và Porto Bello (nay thuộc Colombia và Panama), cùng Havana, Cuba, trên đường về Tây Ban Nha. Tàu được đặt tên theo giáo xứ Atocha ở Madrid. Mỗi ngày, ông đều cho thợ lặn ra khơi, khích lệ họ bằng câu nói: “Hôm nay sẽ là ngày [tìm thấy kho báu]!” Nhiều lần ông không thể trả lương, nhưng luôn hứa sẽ thanh toán. Chìm trong nợ nần, ông bị các công ty đòi nợ truy đuổi. Để tiếp tục, ông và gia đình phải sống trên một chiếc thuyền cũ nát, rò rỉ. Cuộc tìm kiếm còn cướp đi sinh mạng của con trai và con dâu ông, mất tích trên biển khi đi tìm tàu.
Tuy vậy, ông Fisher không bỏ cuộc. Ông kiên trì theo đuổi, không bao giờ từ bỏ giấc mơ hay khuất phục trước những lời hoài nghi và chỉ trích. Cuối cùng, năm 1985, đội thợ lặn của ông đã tìm thấy xác tàu đắm, và trong ba thập kỷ sau đó, họ liên tục trục vớt kho báu từ đáy biển.
Ông Fisher là một tấm gương truyền cảm hứng về đức tin kiên trì. Đó chính là loại đức tin được mô tả trong Tân Ước: “Đừng chán nản khi làm điều thiện, vì đến thời, chúng ta sẽ gặt hái nếu không bỏ cuộc” (Gl 6, 9).
Đức tin, nói đơn giản, là “niềm tín thác vào Thiên Chúa.” Đức Giêsu nhắc chúng ta rằng chất lượng đời sống tùy thuộc vào chiều sâu đức tin: “Các anh tin thế nào thì được như vậy” (Mt 9, 29). Từ “Tin/ đức tin” có thể được xem như một chiếc “ô” bao trùm nhiều cách diễn đạt khác nhau. Bên cạnh đức tin kiên trì mà ông Mel Fisher đã thể hiện, còn có sáu dạng đức tin khác mà chúng ta có thể vận dụng trên hành trình đời sống.
Đức Tin Biết Ơn
Đây là đức tin thể hiện lòng biết ơn đối với những phúc lành đã nhận được. Đức tin biết ơn có thể thấy nơi thánh Phaolô, khi ngài viết cho cộng đoàn Philípphê: “Anh em đã chia sẻ với tôi, khi tôi gặp cơn quẫn bách, như thế là phải…. Đôi lần anh em đã gởi cho tôi những gì tôi cần dùng” (Pl 4, 14,16).
Đức tin biết ơn ấy cũng được thể hiện trong một lá thư của đôi vợ chồng đi nghỉ gửi cho quản lý khách sạn nơi họ lưu trú: “Thưa ông, chúng tôi vừa có kỳ nghỉ hai tuần tại khách sạn của ông và muốn bày tỏ sự thân thiện, lịch sự và tận tâm của đội ngũ lễ tân, đặc biệt là Claudia, nhờ sự giúp đỡ của cô mà kỳ nghỉ của chúng tôi trở nên tuyệt vời. Ông thật may mắn khi có những nhân viên như vậy, góp phần nâng cao uy tín khách sạn. Chúng tôi cũng xin khen ngợi đội ngũ phục vụ phòng vì chất lượng cao và cơ sở vật chất hạng nhất. Tất cả cho thấy khách sạn được điều hành tốt, và chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn bè. Chắc chắn chúng tôi sẽ quay lại.”
Đức Tin Can Đảm
Đây là đức tin đứng vững trước hiểm nguy hay thử thách lớn. Đó là đức tin của Đavít khi đối diện với Gôliát và nói: “Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với ta. Còn tao, tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Is-ra-el mà mày thách thức. Ngay hôm nay, Đức Chúa sẽ nộp mày vào tay tao” (1 Sm 17, 45-46).
Đức tin ấy cũng được Nữ hoàng Elizabeth I diễn đạt mạnh mẽ. Khi hạm đội Tây Ban Nha tiến gần bờ biển Anh năm 1588 để chuẩn bị xâm lược, bà đã gặp quân lính tại bến Tilbury, khích lệ họ bằng lời: “Ta đến giữa các ngươi… quyết tâm, giữa trận chiến khốc liệt, sống và chết cùng các ngươi; hiến dâng cho Thiên Chúa, cho vương quốc và dân tộc ta, cả danh dự và máu của ta, ngay cả trong bụi đất. Ta biết thân xác ta là một người phụ nữ yếu đuối, nhưng trái tim và ý chí của ta là của một vị vua…”
Đức Tin Khích Lệ
Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô dạy chúng ta hãy mở lòng chạm đến người khác “tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho” (Rm 12, 3). Rồi ngài thêm: “Ai [được ơn] khuyên răn/khích lệ, thì cứ khuyên răn/khích lệ.” (Rm 12, 8)
Đức tin khích lệ này được bà Carol Hamblet Adams thể hiện khi chồng bà nằm viện. Bên cạnh ông, bà nghe một y tá kể về một bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối. Dù bệnh nặng, mỗi lần đến điều trị, ông này vẫn đi thăm các bệnh nhân khác, đem cho họ niềm hy vọng và sự khích lệ. Bà Adams xúc động đến mức viết thư cho ông, nói rằng bà được truyền cảm hứng bởi sức mạnh và lòng can đảm của ông, và chính đời sống bà đã được tác động bởi hành động ấy.
Đức tin, thật đơn giản, là “niềm tín thác vào Thiên Chúa.” Đức Giêsu nhắc chúng ta rằng chất lượng đời sống tùy thuộc vào chiều sâu đức tin.
Vài tháng sau, bà Adams nhận được cuộc gọi từ vợ của người đàn ông, báo tin ông ấy đã qua đời. Bà cho biết lá thư không chỉ được chồng bà đọc mà cả gia đình cũng đọc. Bà còn nói: “Bài điếu văn duy nhất trong tang lễ của chồng tôi chính là lá thư của bà.” Bà Adams rút ra một bài học vô giá: “Chúng ta đừng bao giờ ngần ngại nói với ai rằng họ đã chạm đến đời sống mình. Có thể chúng ta sẽ không còn cơ hội nào nữa.”
Đức Tin Tự Tin
“Tôi sẽ tin tưởng và không sợ hãi. Đức Chúa là sức mạnh của tôi” là một ví dụ Kinh Thánh về đức tin tự tin. Đức tin này cũng thấy nơi những người dám đối diện thử thách và kiên trì đến cùng.
Một minh chứng là ông Antonio Abertondo, người Argentina, đã bơi qua eo biển Manche năm 1961. Nước biển lạnh, dữ dội và khó lường; số người thành công rất ít. Ông Abertondo, lúc ấy 42 tuổi, đã bơi từ Anh sang Pháp.
Vì tuổi tác, nhiều người nghĩ ông không thể làm được. Khi lên bờ biển Pháp, bạn bè chúc mừng ông vì đã làm điều tưởng chừng bất khả. Ông cảm ơn họ, nghỉ uống cà phê 5 phút rồi nói: “Các bạn chưa thấy điều bất khả đâu.” Sau đó, ông lại lao xuống biển và bơi thêm 22 giờ trở về Anh, trở thành người đầu tiên bơi qua eo biển Manche cả hai chiều.
Đức Tin Tha Thứ
Đức tin này là sức mạnh của tình yêu, đủ để xóa bỏ hận thù. Nó tỏa sáng nơi Đức Giêsu, khi Ngài treo trên thập giá vẫn cầu xin cho những kẻ hành hạ mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 34).
Ông George Takei, diễn viên từng tham gia bộ phim truyền hình Star Trek nguyên bản, sinh ra trong một gia đình người Mỹ gốc Nhật. Trong Thế chiến II, ông lớn lên trong các trại tập trung đầy rào thép gai và súng máy chung quanh. Sau chiến tranh, ông vẫn chịu sự khinh miệt và bất công. Thế nhưng, thay vì nuôi hận, ông đã tha thứ. Ông nhớ lời cha mẹ: “Cay đắng chỉ làm chính mình bị ngâm trong dấm chua.” Ông đã nhận ra rằng tha thứ cho người khác mang lại cho bản thân sự “giải thoát.”
Đức Tin Hy Vọng
Tổ phụ Ápraham được mô tả là người có loại đức tin này: “Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành ‘tổ phụ nhiều dân tộc,’ như lời Thiên Chúa phán: ‘Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế.’ Ông vẫn vững tin không nao núng.…” (Rm 4, 18-19). Dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, đức tin này vẫn giữ vững niềm hy vọng và vượt thắng tuyệt vọng.
Ông George Stephanopoulos, người dẫn chương trình truyền hình, kể lại rằng ông đã xúc động khi chứng kiến đức tin hy vọng. Khi ấy, trong dịp lễ Giáng Sinh, ông phân phát lương thực và thuốc men tại một trại tị nạn ở Sudan, nơi đang chìm trong nạn đói. “Hãy tưởng tượng một vùng sa mạc trống rỗng với hàng ngàn người chẳng có gì cả. Trên cánh đồng, tôi thấy toàn là xác bò nằm rải rác và những bụi cây khô héo.”
Thế nhưng, có hai hình ảnh khắc sâu trong tâm trí ông: “Thứ nhất là sự tận tâm của các nhân viên cứu trợ, những người hiến dâng cả đời để giúp đỡ những con người tuyệt vọng. Khi được hỏi vì sao họ ở đó, họ trả lời: ‘Chúng tôi có thể làm được điều gì đó, nên chúng tôi sẽ làm.’ Thứ hai là ở giữa trại, những người tị nạn Ethiopia đã dựng một nhà thờ nhỏ bằng gỗ và bìa cứng. Tôi thấy vị linh mục quét dọn ‘cung thánh’ để chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Người dân tụ họp để hát và cầu nguyện. Giữa cảnh ngộ tưởng chừng vô vọng, việc cử hành ấy là một hành động kiên định của đức tin và hy vọng.”
| Đức tin có nhiều cách biểu hiện khác nhau. |
Phụ lục
Ngôn sứ Mikha thi hành sứ vụ của mình tám thế kỷ trước khi Đức Kitô đến. Ông là người cùng thời với ngôn sứ Isaia. Khác với ngôn sứ Isaia, vốn là người sinh ra tại thành thánh Giêrusalem, ngôn sứ Mikha là một người quê mùa, một nhân vật gây tranh cãi vì đã lên án giới lãnh đạo Giuđa và phê phán sự hưởng thụ của giới giàu có. Lời ông vẫn còn vang vọng trong thực tại nhân sinh của chúng ta: “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mc 6, 8). Đó không phải là đức tin sao?
Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo viết: “Đức tin là một hành vi cá nhân: là lời đáp lại cách tự nguyện của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi đơn độc. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tự ban đức tin cho mình, cũng như không ai tự ban sự sống cho mình. Người tin nhận được đức tin từ những kẻ khác và phải thông truyền đức tin đó cho những kẻ khác… Mỗi người tin là như một mắt xích trong một xâu chuỗi rộng lớn các kẻ tin. Tôi không thể tin nếu không được nâng đỡ bằng đức tin của những người khác, và bằng đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của những người khác.” (166).
(Chuyển ngữ: Lm. Giuse Đinh Đức Huỳnh, SSS)
Nguồn: dongthanhthe.net
